Tuesday, May 5, 2009

Thông Báo Cộng Đồng



Trân Trọng Kính Mời Qúy Hội Đoàn và Cá Nhân với Quân Phục Quân Lực VNCH,
Tham dự Diễn Hành Ngày Quân Lực Hoa Kỳ và cũng là Kỹ niệm 50 năm, Diễn Hành Truyền Thống Quân Lực Hoa Kỳ tại Thành Phố duy nhất của miền tây Hoa Kỳ cuộc diễn hành được ủy nhiệm và trợ giúp của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ để đứng ra tổ chức.

Ngày thứ Bảy 16 tháng 5 năm 2009 lúc 1:30 chiều trên Đại Lộ Torrance thuộc Thành Phố Torrance Tiểu Bang California.

Diễn Hành truyển Thống ngày Quân Lực Hoa Kỳ tại Torrance bắt đầu từ năm 1949 cho đến nay đã 50 lần.

Sau cuộc diễn hành sẽ có triễn lãm phi cơ, tàu chiến, xe tăng, trọng pháo, nhà thương di động, khu sinh hoạt và giải trí cho các em, trang và khí cụ xử dụng trong Quân Lực Hoa Kỳ, hai ngày Thứ Bày và Chủ Nhật trong khu Del Amo Fashion Center (north end).
Và Ngày Thứ Sáu sẽ có Hòa Tấu Nhạc do Hải Quân Hoa Kỳ Thưc hiện (James Armstrong Theatre)vào cửa miễn phí.

Đây là năm thứ hai Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại được tung bay trên nền trời của những người yêu chuộng Tự Do và Hòa Bình của nhân loại, sánh bước cùng với các Chiến Binh Hoa Kỳ hiện đang tham chiến trên các Chiến Trường máu lữa Iraq, A Phú Hãn đem máu xương mình để bảo tồn truyển thống hào hùng bất khuất cũng như hơn 350,000 Chiến Sĩ và hai triệu đồng bào của Việt Nam Cộng Hòa đã Hy Sinh trong cùng một chí hướng.

Sự hiện diện của toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa là một niềm Vinh Dự chung cũng bày tỏ lòng tri ân đến những Chiến Sĩ anh hùng đã đem máu xương mình để đánh đổi an bình và tự do cho nhân loại .

Toán Quốc Quân Kỳ với sự tham dự của các Cựu Quân Nhân gồm các Quân Binh Chủng thuộc các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .

Khi qua Khán Đài Danh Dự toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa sẽ được xướng danh : " The Color Guard of the Republic of Vietnam Armed Forces Veterans Association represents all Republic of Vietnam Armed Forces participating in the Vietnam War. More than 350,000 Republic of Vietnam soldiers sacrificed their lives together with 58,256 U.S. soldiers and over 6000 soldiers of allied forces in the Vietnam War. And thousands soldiers missing in action are still unaccounted for. The Color Guard represents and honors all the soldiers who sacrificed their lives for the cause of freedom . The Group have participated in many of the parades and community services to help their Veterans"

Mong được sự phổ biến, cổ động và tham dự của tất cả quý vị
hẹn gặp lại trong ngày Diễn Hành Truyền Thống của Quân Lực Hoa Kỳ và Cờ Vàng lại ngạo nghễ tung bay trên vòm trời Tự Do.


Trân Trọng,


Phạm Hòa
CQN Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH
Hội Trưởng Hội Ái Hữu Quân Trường Đồng Đế Nha Trang THSQ-QLVNCH
hoavanpham@yahoo.com
310-245-2284
http://CoVangTungBay.blogspot.com

Friday, April 10, 2009

NGƯỜI LÍNH GIÀ VÀ MÀU CỜ TỔ QUỐC


"Tôi sinh ra trong loạn ly của đất nước, chẳng lẻ tôi lại chết ở xứ người sao cô ?" Người lính già nhìn ra cửa chờ người bạn đến rước, anh hỏi nhưng anh dường như anh không cần câu trả lời. Mà làm sao tôi trả lời anh được!
“Chù dán tấm lịch nầy trên cửa tủ lạnh để nhớ ngày trở lại tiếp máu nhen chú.” Tôi nói để đánh trống lảng.
“Ðau mà được bác sỉ trị bệnh thì tôi không quên đâu cô ạ.” Lần nầy người lính già nhìn tôi, như anh tìm trong mắt tôi một nơi để gởi lại cái bị đời của anh. Một người vợ trẻ và bốn đứa con thơ.
“Chúng cầm tù chú mấy năm hả chú?” Tôi hỏi:
“Mười chín năm cô ạ.” Chú nhìn xuống bàn tay xương xẩu, vuốt mấy sợi tóc bạc phơ còn lại sau ba tháng “chemotherapy” rồi đội lại cái nón base ball màu xám tro vợ chú đem về ở hảng may nón để chú che cho ấm đầu. “Tôi nhảy xuống Hòa Bình năm 1966 không đầy hai tuần lể cả bọn chúng tôi bị bắt, năm 1985 chúng tôi được thả về, mấy anh em kia có người chết trước đó, có người về nửa đường chết nửa cô ơi.”
Tôi được dịp chăm sóc anh lính Biệt Kích già nầy vì tôi làm việc trong nhà thương Northlake, nơi anh đến trị bịnh. Trong vòng hai tháng mà anh vô phòng cứu cấp ba lần, lần đầu tiên gặp anh là hôm tôi thấy xe cứu thương chở đến phòng cứu cấp một người Việt Nam, hai người Mỹ to lớn đẩy băng-ca trên đó một thân hình nhẹ nhỏm, không hay biết gì, hai tay quờ quạng một cách yếu đuối. Tôi không biết anh là ai nhưng tôi biết anh là người Việt Nam đủ rồi, tôi vào phòng cắp cứu với bác sì với anh.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ, bác sỉ cho anh nhập viện, mấy ngày sau anh khoẻ lại tôi có khuyên anh nên tìm một bác sỉ gia đình theo dỏi bịnh của anh thường xuyên hơn chớ đừng để bị té xỉu hoài ở nhà nguy hại lắm.

Anh bằng lòng, và sau đó bác sỉ gia đình của anh gởi anh tới một bác sỉ chuyên môn về ung thư. Vì bác sỉ trong nhà thương nghi là anh bị ung thư..

Quả thật, anh bị ung thư máu. Tôi đã giúp anh lần đầu tại phòng cứu cắp, tìm cho anh bác sỉ gia đình thì tôi cũng nên giúp anh cho đến nơi đến chốn. Tôi lại là người đem hun tin đến cho anh. Suốt đêm trước đó tôi trằn trọc mãi, không biết tìm lời nào cho nhẹ hơn hai tiếng “ung thư” để dịch cho anh.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa can đãm ngoài chiến trường, ngày nay người lính già nầy vẫn còn cái khí thế của anh Biệt Kích trên nền trời xanh của Việt nam.

Ðứng trước mặt anh và bác sỉ, tôi không dám nhìn thẳng vào mắt anh rồi tôi từ từ nói:

“Kết quả cho biết là chú bị ung thư ở cổ chú à.”

“Cô hỏi bác sỉ tôi còn bao lâu?” Chú bình tỉnh hỏi:

“Bác sỉ hỏi chú muốn ổng trị bịnh cho chú không?”

“Trị bằng cách nào? Mổ lấy ung thư ra hay sao?”

“Không có mổ, bác sỉ sẽ trị bàng thuốc, kết quả chỉ có thể đoán dược 50% thành công thôi, phản ứng của thuốc sẽ làm mất sức chú lắm, như ói mửa, rụng tóc, ăn không được, mất ngủ trong thời gian trị bịnh. Nhưng sau đó tóc của chú sẽ mọc lại. Ðiều quan trọng là trong thời gian trị bịnh chú phải đến đây ba tháng liên tiếp, và mỗi tháng chú đến nhà thương và phòng mạch nầy độ hai mươi lăm lần” Tôi nhìn phản ứng trên khuôn mặt không còn sự sống của chú.

“Trị bịnh thì phải cố gắng, nhưng làm sao tôi đến nhà thương được hai mươi lăm lần trong một tháng? Tôi mới đến Mỹ, chưa biết lái xe, mà có biết cũng không có tiền mua xe. Thỉnh thoảng đến đây là nhờ anh em chở dùm, hay là xe cứu thương chở tôi đến nhà thương, mình đâu có thể làm phiền anh em quá như thế! “ tiếng anh nói chứa đựng ngao ngán của một người không có phương cách nào xoay trở.

Tôi chỉ biết “anh em” của chú qua mấy lần họ đưa rước chú ở nhà thương, nhưng tôi đánh liều.

“Chuyện đó để tôi lo, chú cứ cho bác sỉ biết là chú muốn trị bịnh không đả.” Tôi nói:

Anh lính già gật đầu. Bác sỉ nhìn anh rồi nhìn tôi, ông nói:” Cho ổng biết là tôi sẽ trị bịnh cho ổng với tất cả khả năng của tôi, và tôi rất kính trọng một cựu chiến binh can đãm như ông. Cám ơn ông đã tin tưởng nơi tôi, tôi sẽ săn sóc ông hết lòng.”

Rồi bác sỉ đưa một lược mấy văn kiện bằng tiếng Anh, ông bảo tôi dịch trước khi chú ký tên. Một tờ cho phép bác sỉ trị bịnh cho chú, một tờ cho phép văn phòng bác sỉ đòi tiền medicaid, một tờ cho phép bác sỉ hội ý với bác sỉ chuyên môn khác nếu cần để trị bịnh cho chú.

Tối hôm đó tôi về nhà điện thoại cho anh Nguyễn Thanh Châu, người bạn đồng ngũ, cũng đã bị cộng sản bát bỏ tù như chú. Bây giờ tới lượt tôi trổ tài năn nỉ.

“Anh Châu hả? Dung đây, mạnh giỏi không ông? Oâng làm ở Harry’s Framer Market có rau trái tươi, ăn uống toàn là đồ bổ thì chắc anh mạnh khỏe lắm hén!” Tôi phá anh:

“À chị Dung, còn chị làm ở nhà thương thì chắc chị mạnh hơn bọn HO già của tôi” Anh Châu cười, tiếng cười của anh làm cho người khác vui lây.

“Anh em của mình còn sức khỏe, nhưng ông Quách Tỏm đau nhiều quá ổng cần bọn mình tiếp tay với ổng anh Châu à.” Tôi mở giọng năn nĩ.

“Chúng tôi chăm sóc ổng từ sáu tháng nay, từ ngày ổng bước chân tới đất Mỹ cho đến bây giờ.” Anh Châu nói với giọng buồn cho ông Quách Tỏm.

Ổng thường nhắùc đến công ơn của các anh trong Gia Ðình Biệt Kích ở Atlanta, chúng mình có gia đình, có sức khỏe, có công ăn việc làm, ai cũng phải đi cày, nhưng chuyến nầy mình phải tổ chức sao để chơ ổng đi nhà thương ít nhứt 25 lần trong một tháng mà ba tháng như vậy.

“Trời ơi làm sao mà chở nổi chị Dung?” Anh Châu hốt hoảng lên.
û” Anh hợp lại với anh em Biệt Kích đi, ngày xưa thằng cộng sản Bắc Việt nó bỏ tù các anh, ai mạnh thì săn sóc người yếu, ai yếu người mạnh giúp để chống chõi với đoàn thú vật đó ; bây giờ ổng cần các anh giúp ổng để chống lại tử thần. Chúng mình mỗi người một tay giúp chú và vợ con chú anh ơi.”
“Ðược rồi, tối nay tôi sẽ nói chuyện với anh Quách Rạng, chị an tâm” anh Châu trả lời.

Thế rồi gia đình Biệt Kích phân công nhau giúp đở gia đình người bạn già, một lần nửa lại đánh giặc và một lần nửa có bạn đồng ngủ trung thành ở một bên với anh.

Nhưng tiếc thay, ba tháng sau bệnh chủa chú càng ngày càng trầm trọng. Bác sỉ cho tôi biết chú chỉ còn ba hoặc bốn tuần nửa thôi. Lần nầy tôi không dám nói với chú, nhưng tôi cho anh Châu biết, các anh dặn nhau đừng để cho vợ chú biết để chị ấy vửng tin thần nuôi con và chăm sóc chú.
Một hôm tôi và chú ngồi chờ anh Quách Nhung, cháu họ của chú đến chở về sau khi chú Quách Tỏm chích thuốc. Tôi muốn sắp đặt cho chuyến đi vĩnh diển của chú theo ý muốn của chú, nên tôi dọ ý.

“Một mai tôi có chết, tôi không muốn người ta đến nhìn cái măït chết của tôi đâu chú.” Tôi nói:
“Ðể cho người ở lại họ đở nhớ mình thì tôi cho nhìn mặt, mà tại sao cô không cho người ta nhìn mặt cô?” Chú hỏi:

“Tôi nghỉ lúc chết mặt mình xấu quắc, người ta nhìn tôi, tôi giận lắm đó.”

“Tôi cũng nghỉ như cô, lúc trẻ tôi đâu có súng răng, đầu bạc như thế nầy, tôi bảnh trai nhứt làng trên Ban mê Thuộc đấy cô ạ. Thôi thì không cho nhìn mặt nhé." Chúng tôi cười.

“Nếu tôi chết trước chú nhắc bạn bè đừng cho tôi bông màu đỏ nhé, tôi ghét màu đỏ lăm, nó nhắc nhở quê hương mình đang rỉ máu.” Tôi nhìn vô dách dấu hai con mắt đỏ gây.

“Tôi cũng có một ước mơ, tôi muốn được đắp bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ của mình. Vậy ai chết sau lo cho người chết trước cô nhé. Nhưng mà làm sao cô chết trước tôi được, dạo nầy tôi yếu hơn ba tháng trước lắm cô ạ, chỉ không dám than thở sợ vợ con buồn tội nghiệp nó. Tội nghiệp vợ tội!” Mắt chú nhìn đến một nơi xa xôi nào chớ không nhìn tôi.

Một tuần sau xe cứu thương chở chú Quách Tỏn vào bệnh viện. Chú ăn không được, nói không được nhưng chú biết và nhận ra tất cả bè bạn đến thăm chú. Chú muốn nói lắm, nên tôi đưa cây viết và cuốn tập cho chú. Hai bàn tay quờ quạng, chú viết tứ tung, chúng tôi chỉ nhận ra vài câu:"cám ơn tất cả, gởi lại vợ con, gặp cô nhà báo, cám ơn cô Dung."

Suốt tuần lể trong cơn mê, cơn tỉnh, tôi khuyên vợ con chú đến thăm, nói chuyện, tỏ tình, lao mồ hôi, thấm nước lên môi cho chú. Chú không nói được nhưng chú cười khi có đủ mặt vợ con, bè bạn.

Cô nhà báo là cô Elizabeth Kurylo, phóng viên của tờ báo Atlanta Journal trước đó một vài tháng có viết một bài báo rất hay nói đến Gia Dình Biệt Kích tại Atlanta, cô rất thương gia đình chú Tỏm. Làm theo lời yêu cầu của chú, tôi gọi cô Elizabeth tới thăm chú. Cô khóc nhiều lắm, cô nắm hai bàn tay không còn sự sống của người lính già cô nói:”Anh là một người có danh dự, anh là người yêu nước. Dân tộc Mỹ cũng như dân tộc Việt Nam ghi ơn anh. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên anh.”

Vợ, con, bạn đồng ngủ, bà con hàng xóm và tôi có trước mặt trước giờ cuối cùng của chú Quách Tỏm trong cái phòng nhỏ hẹp của bệnh viện. Các anh nhờ tôi gọi hỏi nhà hoàng về việc mai táng , gia đình, bà con và ông thầy trên chùa bàn tín nghi lể cả tiếng đồng hồ.

Tôi chỉ có một vấn đề quan trọng để cho gia đình chú biết, nên tôi chen chân vào giửa đám đông rồi tôi nói:

“ Chú Tỏm muốn được lá cờ phủ lên quan tài của chú, các anh đây có ai có lá quốc kỳ của mình không?”

Một ông HO cũng thuộc vào hàng có chức phát biểu:

"Dạ chưa chị, chắc là chị không có ở trong quân đội nên chị không biết nghi lể, thể thức của quân đội, nhưng chỉ có tướng, tá hay tử trận mới được đắp cho một lá cờ."

Tôi cướp lời anh HO.

“Ai dám cản việc nầy đây? Ai không cho phép anh nói người đó nói chuyện với tôi nhen.” Tôi nhìn ông ấy từ đầu đến chân nhưng thật ra tôi muốn nhìn thẳng trong tim ông ta, để biết ông có hiểu nổi sự thiêng liêng giửa lá cờ vàng ba sọc đỏ và người Việt Quốc Gia không?

Trong phòng yên lặng một hồi. Không ai tình nguyện cho lá cờ.

“Trăm việc nhờ cô.” Người vợ cầm tay tôi nói nhỏ:
Hôm sau tôi trao lá cờ vàng ba sọc đỏ cho người góa phụ, chị ôm đứa con nhỏ bốn tuổi và lá cờ.
“Cô tìm được lá cờ cho bố đây con ơi!” Chị nói trong tai thằng bé.

Ðám tang của chú Quách Tỏm trang nghiêm và danh dự. Tình chồng vợ, tình cha con, tình anh em, tình đồng đội, tình hàng xóm, tình người nồng nàn trên mặt hơm một trăm người từ già đến trẻ tiển chú đi. Bà dân Biểu Cynthia Mc Kiney của Georgia gởi điện văn từ Washington,DC xuống chia buồn với vợ con chú và Gia Ðình Biệt Kích.

Người lính Việt nam Cộng Hòa chết ở thành phố Atlanta lạnh lẻo, có màu cờ quê hương ấp ủ xác anh. Anh chết không phải là hết, vì anh đã để lại cho chúng tôi chử tình- tình người lính với lá cờ vàng ba sọc đỏ, anh yêu màu cờ cho đến chết vẫn còn yêu và tình đồng hương sâu đậm.

Màu cờ vàng sống mãi trong lòng chúng ta cũng như chú Quách Tỏm sống mãi trong lòng anh chị em chúng tôi nơi đây xứ “Cuốn Theo Chìu Gió.”

Ðặng Mỹ Dung

Thursday, June 12, 2008

Quoc Ky VNCH / Vua Bao Dai


60 nam Quoc Ky Viet Nam Cong Hoa

Vua Bao Dai Tao Kiem Tan Thu Khoa

Vua Bao Dai va Quoc Ky VNCH

Toan Quoc Ky va Hang Quan Danh Du

Toan Quoc Ky VNCH

Monday, June 2, 2008

Lich Su Quoc Ky Viet Nam Cong Hoa / The History of Republic of Vietnam National Flag


















Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam tự do từ Nam ra Bắc
có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948, sau khi Hoàng Đế Bảo Đại ký Hiệp Ước Vịnh Hạ Long với Pháp. (3)
(Xin chú ý: Trên bản đồ, hình lá cờ vàng ba sọc đỏ được dùng trên toàn nước Việt Nam)

SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ QUỐC KỲ VIỆT NAM TỰ DO
Phạm Văn Thanh

I. Ý NIỆM VỀ QUỐC KỲ

Trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, đa số các quốc gia trên thế giới đều theo chế độ quân chủ hoặc là quân chủ chuyên chế do một nhà Vua nắm quyền hay quân chủ phong kiến do nhà Vua cùng nhóm quý tộc nắm quyền cai quản quốc gia và sở hữu chủ lãnh địa. Năm 1793 sau cuộc cách mạng, Quốc Ước Hội Nghị Pháp đã chọn cờ tam tài làm quốc kỳ của nước Pháp. Quốc kỳ Pháp có 3 màu: xanh tiêu biểu cho Tự Do (Liberté), trắng tiêu biểu cho Bình Đẳng (Egalité) và màu đỏ tiêu biểu cho Bác Ái (Fraternité).

Quốc kỳ tam tài của Pháp mang đầy đủ ý nghĩa tượng trưng cho những giá trị Tự Do, Bình Đẳng và Bác Ái rất phù hợp với lý tưởng chung của nhân loại nên về sau, nhiều quốc gia theo thể chế tự do, dân chủ trọng nhân quyền khác đã chấp nhận các màu sắc xanh, đỏ, trắng làm màu sắc căn bản cho quốc kỳ của mình trong đó có nước Anh, Hoa Kỳ, v.v.


II. LỊCH SỬ CÁC LÁ QUỐC KỲ TỰ DO TẠI VIỆT NAM

Từ thời quân chủ xa xưa, người Việt đã dùng cờ làm biểu tượng cho những nhân vật quan trọng như viên đại tướng, nhà Vua hoặc tiêu biểu cho một triều đại. Ví dụ, hiệu kỳ của một viên đại tướng thường dùng cờ theo màu Ngũ Hành hợp với mạng của vị tướng đó: vị tướng thuộc mạng Kim dùng cờ màu trắng, Mộc dùng màu xanh, Thủy dùng màu đen, Hỏa dùng màu đỏ và mạng Thổ dùng cờ màu vàng. Mỗi triều đại cũng tự chọn lá cờ có hình thức và màu sắc kết hợp cách riêng theo thuyết vận hành Âm Dương thế nào để tượng trưng cho sự hưng thịnh nhất của triều đại đó như triều Lý chọn cờ viền màu ngũ hành có chữ Lý ở giữa, triều Nguyễn chọn màu vàng của hoàng tộc. Cũng vậy, lá cờ biểu tượng cho vị quân vương thường có thêu hình rồng ở chính giữa, tụy nhiên dù lá cờ biểu tượng cho nhà Vua, hoặc cho một triều đại cũng chỉ tượng trưng cho hoàng gia mà thôi và thường treo tại hoàng thành hoặc chỗ nào có nhà Vua ngự đến mà không phải là lá quốc kỳ tiêu biểu tổng quát cho một quốc gia gồm cả chính quyền, lãnh thổ và nhân dân trong đó như quốc kỳ Pháp.

Quốc kỳ triều Lý

1. Cờ Long Tinh
Sau Thế Chiến Thứ II, Hoàng Đế Bảo Đại ấn định quốc kỳ đầu tiên của nước Việt Nam gọi là cờ Long Tinh gồm nền vàng với một sọc đỏ nằm ngang bằng 1/3 chiều rộng lá cờ. Cờ Long Tinh được dùng trên toàn cõi Bắc Kỳ và Trung Kỳ do Triều Đình Huế cai quản. Trong khi đó, Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm làm nước thuộc địa nên treo cờ tam tài của mẫu quốc Pháp.


Cờ Long Tinh


Cờ Long Tinh có từ ngày 11 tháng 3 năm 1945 (1)

2. Cờ Quẻ Ly
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương và lên tiếng trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Hai ngày sau, Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam đôc lập và giao cho học giả Trần Trọng Kim lập nội các ngày 17 tháng 4. Ngày 2 tháng 6, Chính Phủ Trần Trọng Kim chọn cờ vàng chính giữa có một quẻ Ly của Bát Quái Đồ gồm 2 vạch liền hai bên và một vạch đứt khúc ở giữa làm quốc kỳ cho toàn nước Việt Nam gọi là cờ Quẻ Ly. Tuy nhiên, Nhật hoãn trả Nam Kỳ lại cho Triều Đình Huế mãi đến ngày 14 tháng 8, năm 1945 chỉ 4 ngày trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và 10 ngày trước khi Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nên trên thực tế, Nam Kỳ chưa từng treo quốc kỳ Quẻ Ly.


Cờ Quẻ Ly

3. Cờ Quẻ Càn
Sau Thế Chiến Thứ II, quân Trung Hoa sang giải giáp quân Nhật tại miền Bắc, ủng hộ các đảng phái quốc gia hòa giải với Việt Minh để lập nên Chính Phủ Liên Hiệp qua Hiệp Định Sơ Bộ ký ngày 6 tháng 3 năm 1946. Phần vì không đồng ý với tinh thần bản Hiệp Định Sơ Bộ và phần khác vì Việt Minh ra tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia, cụ Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam phải rút sang Tàu. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, các đảng phái quốc gia họp tại Hồng Kông lập nên Mặt Trận Quốc Gia, mời Hoàng Đế Bảo Đại chấp chính trở lại. Hoàng Đế Bảo Đại sai nối vạch đứt khúc ở giữa cờ Quẻ Ly làm thành cờ Quẻ Càn, quẻ thứ nhất trong Bát Quái Đồ. Quẻ Càn tượng trưng cho Trời, nhà Vua và quyền lực, ứng với quốc gia, dân tộc và sức mạnh của dân Việt. Kể từ lúc này, trên nguyên tắc, cờ Quẻ Càn là quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập tự do.


Cờ Quẻ Càn
(Phần II: Sơ Lược Về Lịch Sử Quốc Kỳ Việt Nam Tự Do)



4. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ
Không thể thỏa hiệp được với Việt Minh, vào tháng 9 năm 1947, Pháp quay sang thương nghị chính thức trao trả độc lập cho Việt Nam với Hoàng Đế Bảo Đại qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long ký kết ngày 5 tháng 6 năm 1948. Hoàng Đế Bảo Đại chọn mẫu cờ vàng ba sọc đỏ của Họa Sĩ Lê Văn Đệ vẽ (nối dài 3 vạch đỏ của cờ Quẻ Càn) làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam độc lập và giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ lâm thời ngày 1 tháng 6 năm 1948 tại Sài Gòn. Hôm sau, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân ký pháp lệnh ban hành quốc kỳ và quốc ca. Quốc Kỳ của nước Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ ở giữa. Quốc Ca là bài “Tiếng Gọi Sinh Viên” sau đổi thành “Tiếng Gọi Thanh Niên”của Lưu Hữu Phước. Lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đã chính thức là quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập, tự do kể từ thời đó đến khi đất nước chia đôi năm 1954, nối tiếp qua các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa miền Nam cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Sau năm 1975, gần 3 triệu người Việt chối bỏ chế độ CS đã di tản ra hải ngoại và định cư khắp nơi trên thế giới và những cộng đồng người Việt yêu tự do này vẫn nhất quyết dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng của họ.




Quốc kỳ Việt Nam độc lập từ Nam ra Bắc do Hoàng Đế Bảo Đại chọn năm 1948


Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam độc lập, tự do
từ Nam ra Bắc, có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948 (2)



Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam tự do từ Nam ra Bắc
có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948, sau khi Hoàng Đế Bảo Đại ký Hiệp Ước Vịnh Hạ Long với Pháp. (3)
(Xin chú ý: Trên bản đồ, hình lá cờ vàng ba sọc đỏ được dùng trên toàn nước Việt Nam)


III. Ý NGHĨA LÁ QUỐC KỲ VÀNG BA SỌC ĐỎ

1. Về Phương Diện Màu Sắc
Không những màu vàng và đỏ tượng trưng cho dân Việt da vàng máu đỏ mà màu quốc kỳ Việt Nam còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, liên hệ đến nhân-sinh-quan cùng vũ-trụ-quan của dân Việt. Nói chung, màu vàng thuộc hành Thổ (trong ngũ hành) nằm tại trung ương, vì thế màu vàng tượng trưng cho lãnh thổ và cho uy quyền sở-hữu-chủ của lãnh thổ này. Màu đỏ thuộc hành Hỏa và nằm ở hướng Nam; do đó, màu đỏ chỉ dân tộc Việt ở phương Nam so với Trung Hoa.

2. Về Phương Diện Chính Trị
Nền vàng của lá quốc kỳ chỉ quốc gia và dân tộc Việt Nam và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Quốc kỳ vàng mang hai ý nghĩa quan trọng: thứ nhất, tiêu biểu cho chế độ tự do, dân chủ tại Việt Nam; thứ hai, tiêu biểu cho một quốc gia thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, có chính quyền lãnh đạo nhân dân trong lãnh thổ đó và nhân dân gồm tất cả 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Do đó, nước Việt không thể bị phân chia như thời Trịnh Nguyễn phân tranh, cắt nhượng cho bất cứ ngoại bang nào như Pháp đã chia Nam Kỳ thành một nước khác biệt với Bắc và Trung Kỳ.

3. Về Phương Diện Triết Lý
Tương tự như quan niệm về vũ trụ gồm Trời ở trên, Đất ở dưới và Người ở giữa mà tất cả hợp với nhau biến thái, chuyển dịch thành lẽ biến dịch của vạn vật trong vũ trụ, lá Quốc Kỳ Việt Nam chính thống cũng được chọn thế nào để phù hợp hài hòa với lẽ biến dịch này. Màu vàng thuộc hành Thổ, màu đỏ thuộc hành Hỏa và vận chuyển theo Ngũ Hành Tương Sinh thì Hỏa sinh Thổ nên thuận hợp với nhau. Như vậy, kết hợp hai màu vàng và đỏ làm thành quốc kỳ, chúng ta nhấn mạnh cho Trung Quốc biết rằng dân Việt ở phương Nam là một dân tộc có lãnh thổ riêng và chủ quyền hoàn toàn trên đất nước ta như ý nghĩa bài thơ Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt (4) và bản Bình Ngô Đại Cáo (5) mà Nguyễn Trãi đã khẳng định.


IV. KẾT LUẬN

Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ đã từng được dùng làm biểu tượng chính thức cho một Quốc Gia Việt Nam chưa bị phân chia trước năm 1954; nên chi, quốc kỳ vàng sẽ vẫn là biểu tượng chung của những người Việt quốc gia chân chính. Quốc kỳ vàng mang linh hồn của dân tộc Việt cùng tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của dân Việt trong suốt chiều dài lịch sử thăng trầm từ thuở khai quốc đến nay. Quốc kỳ vàng đượm thắm máu đào của bao tiền nhân và anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, không phân biệt người dân sống dưới thể chế chính trị Quốc Gia hay Cộng Sản, sắc tộc Kinh hay Thượng, hoặc tôn giáo, phái tính, tuổi tác nào. Vì thế, người Việt quốc gia có bổn phận phải bảo vệ và phát huy chính nghĩa quốc gia tượng trưng bởi lá quốc kỳ chính thống nền vàng ba sọc đỏ, lá cờ tiêu biểu cho tự do, công bằng và bác ái của truyền thống dân Việt.

Phạm Văn Thanh




Chú Thích:


(1), (2) và (3) Éric Deroo & Pierre Vallaud, “Indochine Francaise 1856- 1956 Guerres, Mythes et Passions” Perrin, Paris, France, 2003.

(4) Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Lý Thường Kiệt)

Nước Nam là của dân Nam
Thiên thư phân định giang san rõ ràng
Nghịch quân xâm lấn tham tàn
Tất là nuốt nhục chuốc vàn bại vong
(Phạm Văn Thanh dịch)

(5) “...Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu;
Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương.
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có...”
(Bình Ngô Đại Cáo, Bùi Kỷ dịch)

Monday, May 19, 2008

49TH ARMED FORCES DAY CELEBRATION 2008




Torrance Celebration
Posted by Warren Enos on 10 Apr 2008 | Tagged as: So. Calif. Related Events

49TH ANNUAL ARMED FORCES DAY CELEBRATION ON MAY 16-18

Torrance, Calif., April 7, 2008 - The City of Torrance continues its long-standing tradition on May 17, 2008 as it hosts its 49th Annual Armed Forces Day Celebration and Parade. The City, one of few cites designated by the Department of Defense, will once again honor the men and women of our nation’s military with a three-day celebration beginning on Friday, May 16 continuing through Sunday, May 18 with the Parade highlight on Saturday, May 17 that will begin at 1:30 p.m. During this weekend, the following events that will occur in the City:

Military Exhibits: Military exhibits on display, including aircrafts, vehicles, support equipment at the Del Amo Fashion Center parking lot between Acapulco & Macy’s (previously Robinson’s May) on May 16 & 17 from 10:00 a.m. to 6:00 p.m. and on May 18 from 11:00 a.m. to 3:00 p.m. Sunday.

Free Concert: The United States Marine Corps 1st Marine Division Band will perform for free at the James Armstrong Theatre on May 16 at 1:30 p.m. and 7:30 p.m.

Parade: 49th Annual Armed Forces Day Parade will run along Torrance Boulevard from downtown Torrance and end at the City Hall on May 17 at 1:30 p.m.

This year’s Grand Marshal, Major General Michael R. Lehnert of the United States Marine Corps, will lead the parade of over 50 entries from active, Guard and reserve military units from the five branches of the Armed Forces. The parade will also include flyovers by military aircraft and will have military vehicles of all descriptions; Humvees, armored personnel carriers, support vehicles and main battle tanks will also rumble down the streets of Torrance. Additionally, military and
elected dignitaries will honor the hundreds of military service men and women as they pass in review.

This year, the United States Army Reserve is also celebrating its 100th Anniversary and the United States Navy is marking the 100th Anniversary of the Great White Fleet, bringing more historic significance to this event and more reason to celebrate.

The community is invited to gather along the parade route and cheer for our sons, daughters, friends, husbands and wives who have been called to duty in defense of our nation’s beliefs and principles and to secure a more peaceful world.

Submitted By: LTC Tom Lasser, USA (RET)

Cờ Vàng Tung Bay Trong Ngày Quân Lực Hoa Kỳ





Tiếng động cơ trực thăng vang dội khắp bầu trơì, hòa lẫn với tiếng động cơ cuả Quân Xa , tiếng hò reo, vổ tay Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vẫn đều bước. Hàng ngàn người đã chờ sẳn hai bên đường nhiều giờ trước của một ngày trời thật trong để chào đón ngày quân lực Hoa Kỳ , những Chiến Sĩ Hoa Kỳ đủ mọi binh chủng trở về từ những chiến trường đẩm máu khốc liệt nhất hiện nay Chiến trường Iraq, A Phú Hản và những nơi biến động nhất trên thế giới, tất cả đều ngạc nhiên khi thấy lại những bộ quân phục của vài chục năm về trước một thời chiến tranh thật khốc liệt đã đi qua Chiến Tranh Việt Nam. Lần đầu tiên toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tham dự Ngày Quân Lực Hoa Kỳ.


Truyền thống của thành phố Torrance miền nam California từ năm 1949 cho đến nay họ đã tổ chức 49 lần Diễn Hành chỉ một khác biệt duy nhất là sự xuất hiện của Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa lá cờ vàng ba sọc đỏ , trên lộ trình Đại Lộ Torrance với những hàng cây cao vút . ngoài những người tham dự vổ tay thật lớn và những cánh tay dài vươn ra vẫy tay Toán Quốc Quân Kỳ VNCH, những cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Viêt Nam đứng nghiêm chỉnh chào đón, nhưng trân trọng nhất là những quân nhân Hoa Kỳ tại ngủ từng nhóm một đứng nghiêm chỉnh chào tay cho đến khi nào Toán Quân Kỳ VNCH đi qua họ mới đem tay xuống, tiếng hò reo hai bên đường vẫn tiếp tục không ngừng khi thấy lại những quân xa và những quân nhân từng tham dự trong Chiến Tranh Việt Nam .


Chiếc Trực thăng sau một hồi bay lượn rồi bổng dừng lại một cánh tay thò ra vẫy tay đoàn diễn hành trong những sự kiện xảy ra thật nhanh và nhanh hơn nửa vì đây là lần đầu tiên cho tất cả Cựu Quân Nhân VNCH Tham Dự Diễn Hành, cuộc chiến đã đi qua hơn 33 năm có lẽ đây là lần đầu tiên họ thấy quá nhiều binh sỉ, quân xa, và những sinh hoạt của Quân Đội một phút giây nào đó thóang qua những hình ảnh Chiến Tranh Việt Nam bổng nhiên lại trở về trong giây phút thật hân hoan và phấn khởi.


Rồi Toán Quốc Quân Kỳ tiếp tục đều bưóc một hai ba bốn, trên khán đài chính hàng chục Tướng Lãnh Hoa Kỳ đã đứng Ngiêm Chỉnh Chào Tay, hàng trăm Sỉ Quan Cao Cấp khác đại diện mọi binh chủng trong quân lực Hoa Kỳ củng nghiêm Chỉnh Chào Đón Tóan Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Trên những loa phóng thanh giọng trầm ấm của người xướng ngôn viên vang lên " Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tham dự diễn hành hôm nay thuộc mọi Quân Binh Chủng của QLVNCH

họ thay mặt cho hơn 350,000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa , hơn 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ và hơn 6000 quân nhân đồng minh đã nằm xuống trên chiến trường Viêt Nam sự hiện diện của họ nhắc nhở chúng ta đừng quên hàng ngàn quân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam vẫn chưa tìm kiếm được , Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ nhắc nhở đến nhiều thế hệ mai sau lòng biết ơn và tri ân đến những anh hùng quên thân mình đem máu xương đổi lấy Tự Do và An Bình cho nhân loại " giọng nói trầm và âm thanh ghi xâu đậm mãi trong lòng những người tham dự.


Những Quân Nhân Hoa Kỳ với những hình lưu niệm chụp cùng Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Quân Nhân Hoa Kỳ Tham Chiến trong chiến tranh Việt Nam mừng rỡ khi thấy những bộ quân phục trong Chiến Tranh Việt Nam gặp lại những Chiến hữu từng một thời chiến đấu bên nhau kể lại những địa danh đẩm máu đã đi qua trên đất nước Việt Nam trong binh lữa và nhất là Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa , lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tung bay ngạo nghễ trong vòm trời tự do. Thách đố cho sự bền vững dài lâu, cho nhân tâm đạo lý, cho no ấm an sinh và trường tồn của chính nhân và đại nghĩa.