Saturday, April 2, 2016

"Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi sẽ vẫn ở trong tù ngục."

Người chiến thắng là người biết ước mơ và không bao giờ bỏ cuộc' – là một trong những câu nói nổi tiếng nhất của cố Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela.


"Cây bao báp đại thụ" Nelson Mandela đã ngã xuống, nhưng những câu nói bất hủ của ông sẽ còn mãi với thời gian và nhân loại.
Dưới đây là trích dẫn những câu nói truyền cảm hứng của ông, những câu nói mang đậm tư tưởng chiến đấu đến cùng vì tự do, công lý và có sức lay động hàng triệu con tim nhân loại:
1. “Người chiến thắng là người biết ước mơ và không bao giờ bỏ cuộc.”
2. “Những khó khăn có thể đánh gục một vài người nhưng lại là động lực cho những người khác.
Không chiếc rìu nào đủ sắc để có thể phá hủy tâm hồn của một người phạm lỗi muốn chuộc tội, một người mang bên mình niềm hy vọng sẽ thành công thậm chí khi họ ở trong bước đường cùng.”
3. "Đừng đánh giá tôi dựa trên những thành công của tôi, hãy đánh giá tôi dựa trên số lần tôi gục ngã và đứng dậy trở lại".


Câu nói bất hủ của huyền thoại Nelson Mandela
Câu nói bất hủ của "huyền thoại" Nelson Mandela

4. “Dẫn đầu từ phía sau, và để cho những người khác tin rằng họ đang dẫn đầu.”
5. “Vinh quang lớn nhất trong cuộc đời không phải là không hề thất bại mà đứng lên sau mỗi thất bại”.
6. “Mọi việc đều tưởng chừng như bất khả thi cho đến khi nó được hoàn thành.”


“Mọi việc đều tưởng chừng như bất khả thi cho đến khi nó được hoàn thành”
“Mọi việc đều tưởng chừng như bất khả thi cho đến khi nó được hoàn thành”

7. “Nếu tôi lấy lại được thời gian của mình, tôi cũng hành động như vậy, và bất cứ ai dám tự nhận là con người cũng làm vậy.”
8. “Tôi thích những người bạn biết suy nghĩ độc lập bởi vì họ sẽ giúp bạn nhìn nhận vấn đề từ mọi khía cạnh.”
9. “Biết lo lắng những điều căn bản cho người khác, chúng ta sẽ tiến một chặng đường dài làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn như trong những mơ ước mãnh liệt của chúng ta.”
10. “Mọi người có thể biến đổi hoàn cảnh và đạt được thành công nếu họ khao khát và đam mê việc họ đang làm.”
11. “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất bạn có thể dùng để thay đổi thế giới.”


“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất bạn có thể dùng để thay đổi thế giới
“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất bạn có thể dùng để thay đổi thế giới"

12. “Tôi đã học hỏi được rằng sự dũng cảm không thể không đi kèm nỗi sợ hãi, nhưng sự chiến thắng sẽ vượt qua điều đó. Một chiến binh can đảm không phải là người không cảm thấy sợ hãi, mà đó là người có thể chinh phục được nỗi sợ đó.”
13. “Tự do không phải chỉ là phá bỏ những xiềng xích, mà đó là còn là tôn trọng và đem lại tự do cho những người khác.”


“Vinh quang lớn nhất trong cuộc đời không phải là không hề thất bại mà đứng lên sau mỗi thất bại”
“Vinh quang lớn nhất trong cuộc đời không phải là không hề thất bại mà đứng lên sau mỗi thất bại”

14. “Những nhà lãnh đạo đích thực phải sẵn sàng hy sinh tất cả cho sự tự do của những người dân của họ."

15. "Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và sự căm thù lại phía sau, tôi sẽ vẫn ở trong tù ngục."
16. "Không ai sinh ra đã có lòng thù hằn với người khác bởi màu da, địa vị hoặc tôn giáo. Điều đó được hình thành qua giáo dục, và nếu họ có thể học thù ghét, thì họ cũng có thể học yêu thương.
Tình yêu thì luôn tìm đến trái tim một cách tự nhiên hơn là thù hận.”


Không ai sinh ra đã có lòng thù hằn với người khác bởi màu da, địa vị hoặc tôn giáo. Điều đó được hình thành qua giáo dục, và nếu họ có thể học thù ghét, thì họ cũng có thể học yêu thương. Tình yêu thì luôn tìm đến trái tim một cách tự nhiên hơn là thù hận
"Không ai sinh ra đã có lòng thù hằn với người khác bởi màu da, địa vị hoặc tôn giáo. Điều đó được hình thành qua giáo dục, và nếu họ có thể học thù ghét, thì họ cũng có thể học yêu thương. Tình yêu thì luôn tìm đến trái tim một cách tự nhiên hơn là thù hận"

17. “Tôi ghét tột cùng sự phân biệt chủng tộc và tất cả mọi biểu hiện của nó. Tôi đã chiến đấu vì điều đó suốt cả cuộc đời. Tôi đang chiến đấu và sẽ tiếp tục cho đến cuối đời.”
18. “Sự oán giận giống như tự mình uống thuốc độc mà hy vọng kẻ thù của mình chết vậy.”
19. “Một cái đầu thông minh và một trái tim ấm áp luôn là một sự kết hợp có sức mạnh kinh hoàng.”
20. “Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc của ông ta, với đất nước của ông ta, ông ta có thể yên nghỉ.
Tôi tin rằng tôi đã hoàn thành nỗ lực đó, và vì vậy, đó là lý do tôi sẽ ngủ yên trong vĩnh hằng.”

Nelson Rolihlahla Mandela là Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu.
Trước khi trở thành tổng thống, Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc), và là người đứng đầu Umkhonto we Sizwe, phái vũ trang của Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC).
Vào năm 1962 ông bị bắt giữ và bị buộc tội phá hoại chính trị cùng các tội danh khác, và bị tuyên án tù chung thân. Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben.
Sau khi được trả tự do vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, Mandela đã lãnh đạo đảng của ông trong cuộc thương nghị để tiến tới một nền dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994.
Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc.
Tại Nam Phi, Mandela còn được biết tới với tên gọi Madiba, một tước hiệu danh dự mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng.
Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993.


Nelson Mandela/Quotes
Education is the most powerful weapon which you can use to change the world.
I learned that courage was not the absence of fear, but the triumph over it. The brave man is not he who does not feel afraid, but he who conquers that fear.
It always seems impossible until it's done.

Friday, March 25, 2016

Thành Kính Phân Ưu cùng G/Đ KQ Lâm Vĩnh Hiên

Được tin
Cụ Bà Đinh Thị Thiết
Là thân mẫu của Không Quân Lâm Vĩnh Hiên
 Đã quy tiên vào lúc 3 giờ sáng ngày 25 tháng 3 năm 2016

Hưởng Đại Thọ 95 tuổi

Chân thành chia buồn cùng KQ Lâm Vĩnh Hiên và gia đình tang quyến. Nguyện cầu hương linh Cụ Bà Đinh Thị Thiết sớm về cỏi Niết Bàn
 
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Phạm Hòa và Gia Đình

Wednesday, March 2, 2016

Mỹ thay đổi chiến lược và những biến loạn

Trong những tháng qua, các cơ quan nghiên cứu và truyền thông Mỹ cũng như quốc tế đã viết rất nhiều bài nói về những sai lầm của Mỹ trong việc thay đổi chiến lược, đang đưa thế giới vào những cảnh biến loạn, đặc biệt là tại Trung Đông, Châu Âu và Biển Đông. Đây là những vấn đề khá phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày vắn gọn để việc theo dõi tình hình được dễ dàng hơn.
TẠI SAO HOA KỲ PHẢI THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC?
Trước đây, khi muốn bảo vệ nền an ninh hay quyền lợi của nước Mỹ, nhất là quyền lợi của các giới đại tư bản quốc phòng Mỹ, các chính quyền Mỹ thường xử dụng biện pháp Can Thiệp Bằng Quân Sự (Military Intervention) và sẵn sàng trả bằng mọi giá, điển hình nhất là cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến Afghanistan và cuộc chiến Iraq. Trong cuộc chiến Iraq, Hoa Kỳ đã bất chấp luật pháp quốc tế khi hành động.
Tuy nhiên, kể từ năm 2011, Hoa Kỳ đã tìm cách đi ra khỏi biện pháp can thiệp bằng quân sự này, có lẽ vì nhu cầu tiêu thụ các võ khi cũ không còn. Trước hết, các nhà chiến lược và phân tích của Hoa Kỳ đã đưa ra các tài liệu cho thấy rằng can thiệp bằng quân sự quá tốn kém và không có hiệu quả. Họ đã đưa ra các con số để chứng minh điều đó.
Website của đại học Harvard công bố một bản báo cáo của nữ giáo sư khoa học chính trị Linda J. Bilmes và nhà kinh tế đoạt giải Nobel - Joseph Stiglitz cho biết theo dự báo, tổng số chi của cuộc chiến Afghanistan và Iraq có thể lên tới 2.000 tỉ USD, nhưng tới năm 2010, con số thực chi đã vượt mức 3.000 tỉ USD. Theo Tổ chức Brookings Institution Iraq Index, về mặt tài chính, cuộc chiến Iraq đã góp phần không nhỏ vào việc làm gia tăng công nợ của nước Mỹ, tính đến ngày 19.8.2010 đã lên đến 13.310 tỉ USD, chưa kể các tổn thất về nhân mạng và tài sản của cả đôi bên, nhất là của người dân Iraq. Mặc dầu đã phải chi ra một khoản chi phí lớn như vậy, Mỹ đang sa lầy ở Afghanistan và chưa biết cuộc chiến Iraq sẽ đi về đâu, và “khi người Mỹ rút đi, cay đắng ở lại”!
Ngày 8.4.2011 tờ Whasington Post đã cho đăng một bài dưới đầu đề “Grounds for U.S. military intervention” (Các căn bản can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ) của cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger nhằm chuẩn bị cho việc thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ. Trong bài đó Kissinger nói rằng như một nguyên tắc chung, nước Mỹ chỉ nên can thiệp bằng quân sự khi lợi ích quốc gia đang bị đe dọa. Ông đưa ra năm việc phải làm khi muốn can thiệp bằng quân sự.
Ngày 12.12.2015, trong cuộc họp báo chung tại Tòa Bạch Ốc với Thủ tướng Nouri al-Malaki đến từ Iraq sang, Tổng Thống Obama tuyên bố:
"Sau gần chín năm, cuộc chiến của Mỹ tại Iraq sẽ chấm dứt trong tháng này. Chúng tôi có mặt tại đây hôm nay để đánh dấu sự kết thúc cuộc chiến này và mở ra trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai nước và từ hôm nay một nước Iraq mới sẽ tự quyết định số phận của mình."
Ông Obama cho biết Mỹ vẫn sẽ tiếp tục cam kết duy trì an ninh và hỗ trợ Iraq phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực dầu khí.
Từ năm 2008, khi đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Obama đã cam kết rút hết quân đội Hoa Kỳ ra khỏi các xung đột ở Trung Đông. Kể từ tháng 12 năm 2011, chính quyền Obama quyêt định thay thế biện pháp Can Thiệp Bằng Quân Sự (Military Intervention) bằng một chiến lược khác được gọi là Chiến Lược Chiến Tranh Ủy Nhiệm (Proxy War Strategy). Nhưng đây là một chiến lược lớn cho từng giai đoạn của Mỹ, Tổng Thống Obama hay bất cứ tổng thống nào ở trong giai đoạn đó cũng phải thi hành. Vậy Chiến tranh Ủy nhiệm là gì?
CHIẾN TRANH ỦY NHIỆM hay TÁ ĐAO SÁT NHÂN
Chiến tranh ủy nhiệm (proxy wars) thường được định nghĩa là một cuộc chiến tranh do các thế lực đối nghịch xúi biểu (proxy war is a war instigated by opposing powers). Các thế lực này không trực tiếp dùng vũ lực để chống nhau mà viện trợ vũ khí, trang bị, huấn luyện và cố vấn cho các phe trong nước hay trong khu vực chiến đấu chống nhau thay cho họ, còn họ đứng ngoài chỉ đạo, yểm trợ, cung cấp tin tức tình báo, và nhất là lèo lái dư luận quốc nội và quốc tế.
Trong Tam thập lục kế (36 kế) của Tàu có kế “Tá đao sát nhân” tức mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình. Chiến tranh ủy nhiệm” chính là kế “Tá đao sát nhân”. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu, rồi lại được làm cái việc “mèo già khóc chuột”... Nhưng kế này không phải lúc nào cũng thắng.
Ngày 14.8.2012, trên website http://nickturse.tumblr.com/, sử gia và nhà phân tích Nick Turse đã cho phổ biến bài Washington puts its money on proxy war” (Washington xài nhiều tiền vào chiến tranh ủy nhiệm) nói rằng: Mặc dù có một lịch sử xử dụng ngầm hàng tỷ USD vào các đạo binh ủy nhiệm (proxy armies) đã bị sụp đổ, bỏ ra đi hay biến thành kẻ thù, Washington hiện đang theo đuổi kế hoạch chiến tranh ủy nhiệm trên toàn cầu…
Ông Nick Turse hiện đang viết nhiều bài nghiên cứu cho các tờ New York Times, Los Angeles Times, đài BBC, v.v. Với bài trên, ông đã tường thuật lại những cuộc chiến tranh ủy nhiệm mà Hoa Kỳ đã thực hiện khắp nơi trên thế giới để bảo vệ an ninh và quyền lợi của Mỹ nhưng bị thất bại, với mục tiêu khuyến cáo Hoa Kỳ phải cảnh giác với loại chiến tranh này.
Hiện nay, chính phủ Hoa Kỳ không phải chỉ dùng chiến tranh ủy nhiệm để điều hành các cuộc chiến tại Trung Đông mà còn tìm cách xử dụng nó tại Âu Châu và Biển Đông bằng cách lôi kéo các cường quốc trong vùng nhập cuộc để thay thế dần vai trò của Mỹ. Không nắm vững sự thay đổi chiến lược này rất khó có thể hiểu được tại sao các biến loạn đang xảy ra từ Trung Đông qua Châu Âu đến Biển Đông.
TÁ ĐAO TẠI TRUNG ĐÔNG
Trước hết, chúng tôi xin nhắc lại rằng theo Chiến lược “Một Trung Đông Mới” của Hoa Kỳ được Thổng Thống George W.Bush công bố ngày 17.8.2006 để chận đứng sự vùng dậy của khối Hồi Giáo gây thảm họa cho thế giới, trong đó có hai kế hoạch chính:
- Kế hoạch thứ nhất là thanh toàn các lãnh tụ Hồi Giáo chủ trương tái lâp một đế chế Hồi Giáo như đế chế Ottoman trong lịch sử, đó là Saddam Hussein, Mubarak, Gaddafi, và Assad.
- Kế hoạch thứ hai là phân chia 5 quốc gia Hồi Giáo trong vùng trung tâm thành 14 quốc gia để phân tán sức mạnh của khối Hồi Giáo.
Việc thực hiện kế hoạch thứ nhất khá gay go và nếu không hoàn thành được kế hoạch này, không thể thực hiện kế hoạch thứ hai.
Chính Tổng Thống Bush đã áp dụng biện pháp can thiệp bằng quân sự để thanh toán Saddam Hussein và lấy quyền lực từ khối Sunni chuyển giao cho khối Shiite. Ngày 14.12.2003 Saddam Hussein đã bi bắt và bị tử hình ngày 30.12.2006. Nhưng hành động này đã bị cả thế giới lên án vì bất chấp luật pháp quốc tế. Để thanh toán Mubarak, Hoa Kỳ phải tạo ra cuộc “Cách mạng hoa lài” để trong nội bộ các nước Hồi Giáo thanh toán nhau. Ngày 11.2.2011 Mubarak phải từ chức. Vì không thể dùng biện pháp can thiệp bằng quân sự hay “Cách mạng hoa lài” để thanh toán Gaddafi, Tổng Thống Obama phải giao cuộc chiến này cho Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy lãnh đạo, Hoa Kỳ chỉ yểm trợ về thông tin và tình bào. Ngày 20.10.2011, Gaddafi đã bị giết.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã gặp rất nhiều khó khăn khi thanh toán Tổng thống Syria là Bashar al-Assad, vì Syria có một vị trí địa lý rất quan trọng ở Trung Đông nên Nga không để cho Mỹ chiếm vị trí này. Hoa Kỳ đã xử dụng rất nhiều kịch bản khác nhau để đánh chiếm Syria, chúng tôi xin ghi lại những kịch bản chính:
Kịch bản một: Tuyên bố sẽ tấn công Syria vì “xử dụng võ khí hóa học.
Ngày 21.8.2013, Tổng Thống Obama tuyên bố sẽ tấn công Syria vì “xử dụng võ khí hóa học” mặc dầu chưa chứng minh được. Hôm 4.2.2012, Nga và Trung Quốc đã phủ quyết việc tấn công Syria. Nga gởi ngay 3 tàu chiến đến Syria. Trừ Pháp, các cường quốc khác không ủng hộ Obama. Tại Hoa Kỳ, có đến 60% dân chúng không ủng hộ cuộc tấn công Syria của Obama.
Kịch bản hai: Thành lập Binh Đoàn Syria Tự Do
Tại Syria có đến 74% người theo giáo phái Hồi Giáo Sunni, chỉ có 16% theo giáo phái Shiite, nhưng chính quyến Assad là chính quyền Shiite. Do đó, Hoa Kỳ kêu gọi những người Sunni bỏ quân đội Assad ra thành lập Binh Đoàn Syria Tự Do (Free Syrian Army – FSA) để chống lại Assad. Lực lượng của Assad lúc đó có khoảng 220.000 quân.
Theo lời kêu gọi của Hoa Kỳ, số người Sunni đào ngũ ngày càng đông. Họ được đưa qua Thổ Nhĩ Kỳ và Jordan để huấn luyện. Mỹ đã tốn rất nhiều tiền và công sức để tập họp họ lại, huấn luyện và trang bị cho họ chống Assad, nhưng không thành công, vì chẳng ai chịu tuân phục ai. Nhiều người bỏ đi theo tổ chức al-Nursa của Al-Qaeda và sau này tham gia cả vào nhóm Nhà Nước Hồi Giáo (ISIS). Theo tài liệu của LHQ, hiện nay quân nổi dậy ở Syria có đến 600 nhóm, trong đó có hơn 300 nhóm mang lá cờ đen, biểu tượng của phe Thánh Chiến Hồi Giáo. Lực lượng chính của tổ chức FSA do Đại tá Riad Al-Asaad cầm đầu, tổng hành dinh lúc đầu đặt ở bên kia biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.
Kịch bản 3: Liên kết với các nhóm al-Qaeda
Từ trước Hoa Kỳ vốn coi al-Qaeda là tổ chức khủng bố và tìm cách tiêu diệt, nhưng nay vì các nhóm của Binh Đoàn Syria Tự Do không làm nên cơm cháo gì nên Hoa Kỳ phải nhờ Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar hình thành một tổ chức khác để chống Assad. Một tổ chức mới được thành lập có tên là Ahrar al-Sham, có nghĩa là Phong Trào Hồi Giáo của Những Người Tự Do Vùng Cận Đông. Nhóm này được huấn luyện tại Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar, được trang bị những võ khí tối tân và đưa về chiếm giữ hai tỉnh Idlib và al-Shugour nắm sát biên giới Thổ Nhỉ Kỳ. Lữ đoàn của nhóm này đã phối hợp với một số lực lượng như al-Nusra, Jaish al-Islam, Jaysh al-Sunna… và hình thành một tổ chức liên hiệp đấu tranh được gọi là Jaish al-Fatah (Đạo Binh Chinh Phục - Army of Conquest). Đạo Binh này đang tan rã. Hiện nay, Ahrar al-Sham được coi là lực lượng đối lập mạnh nhất ở Syria, có từ 10.000 đến 20.000 quân, rất thiện chiến và sắt máu, có thể kháng cự với quân Assad.
Trước đó, Hoa Kỳ đã ký hợp đồng bán cho Saudi Arabia một số vũ khí trị giá 90 tỷ USD, được giao trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2014. Một phần vũ khí này được trang bị cho phiếm quân Syria.
Kịch bản 4: Lùa dân ra khỏi miền Bắc Syria để đánh chiếm vùng này.
Sau khi đào tạo được một lực lượng có tổ chức và trang bị đầy đủ, Hoa Kỳ quyết định lùa dân phía Bắc Syria qua biên giới Thổ Nhĩ Kỳ và cho đánh chiếm vùng này. Biên giới giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ dài khoảng 822 cây số (511 mi), nhưng phần quan trọng nằm ở phía Tây dài chỉ khoảng 98 cây số, giữa Azaz và Jarabulus, gồm hai tỉnh Idlib và Aleppo. Syria chỉ có một phần đất liền dài khoảng 120km tiếp xúc với Địa Trung Hải gồm hai tỉnh Tartus và Latakia. Vậy chỉ cần chiếm 4 tỉnh là Tartus, Latakia, Idlib và Aleppo ở phía Bắc và Tây Bắc là chế độ Assad sẽ bị cô lập và sụp đổ.
http://www.google.com/url?sa=i&rct=j&q=&esrc=s&source=images&cd=&cad=rja&uact=8&ved=0ahUKEwi4s5Gxqo3LAhWG7yYKHWZkC5cQjRwIBw&url=http://www.wpmap.org/map-of-syria/&psig=AFQjCNGeFZ-F4GMTmP7o9ko7Hnr4yc2nMQ&ust=1456297847665163
Biết trước kế hoạch của Mỹ, ngày 5.9.2015 Nga bắt đầu đổ bộ quân vào Syria, chiếm giữ căn cứ quân sự ở Tartus và căn cứ không quân Latavia, và mở các cuộc không kích ngăn chận tất cả các phiến quân chống Assad. Tuy nhiên, nếu không phá được thông lộ tiếp viện qua biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, khó có thể tiêu diệt phiến quân được. Hôm 24.11.2015, Nga đã cho oanh tạc cơ Su-24 bay lấn qua lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Thổ nghĩ rằng nếu không ngăn chận, Nga có thể tiếp tục xâm phạm vùng bất khả xâm phạm ở biên giới của Thổ, nên đã ra lệnh cho 2 chiến đấu cơ F-16 lên bắn rơi chiếc Su-24. Thế là Thổ đã trúng kế Nga. Viện cớ máy bay Nga bị bắn rơi, Nga đã cho oanh tạc tất cả các lực lượng của phiến quân ở khu biên giới và phá luôn các đoàn xe của ISIS chở dầu lậu qua Thổ bán. Từ đó, Nga đẩy mạnh cuộc oanh kích để tiêu diệt các phiến quân ở biên giới, nhất là các tổ chức thuộc nhóm Ahrar al-Sham.
Với sự tiếp ứng của khoảng 20.000 quân Iran và nhóm Hezbollah ở Libano, quân đội Assad đã mở cuộc phản công trên khắp các mặt trận, nhất và vùng biên giới giữa Syria và Thổ. Bản tin ngày 9.2.2016 của đài RFI cho biết: Được không quân Nga trút bom dọn đường, các đơn vị quân đội Syria, Hezbollah-Liban và vệ binh Hồi giáo Iran đã ồ ạt tiến về Aleppo, chỉ cách biên giới Thổ Nhĩ Kỳ có 20 km.
BÀI HỌC CAY ĐẮNG
Để cứu các phiến quân chống Assad, Mỹ chỉ đưa ra những kịch bản tiêu cực như tố cáo Nga oanh tạc thường dân, không tấn công ISIS mà chỉ tấn công quân phe “đối lập ôn hòa” (moderate oppositions), ngăn chận đoàn xe cứu trợ... Một cuộc hòa đàm giữa các phe đã được tổ chức tại Genève từ ngày 1.1.2016 nhưng thất bại và chẳng ai tin nó sẽ đưa tới một giải pháp nào, kể cả ngưng bắn để "cứu bồ", vì Nga đã quyết định chiến thắng ở Syria bằng quân sự. Khi quân của Assad kiểm soát được biên giới giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, lực lượng phiến quân ở bên trong Syria sẽ mất tiếp liệu, bị cô lập và tan rã.
Trong bài xã luận «Bài học cay đắng Aleppo» Nhật báo Le Monde phân tích: đánh vào Aleppo, Nga làm một công hai việc: bao vây chốt chiến lược cuối cùng của phe nổi dậy, chận đường tiếp liệu từ Thổ Nhĩ Kỳ, và còn tạo ra làn sóng tị nạn, tạo thêm gánh nặng cho kẻ thù muốn lật đổ chế độ Bachar al Assad. (RFI 9.2.2016)
Trong bài “Chiến tranh ủy nhiệm, Sự can thiệp của Nga vào Syria, Washington phải làm gì?” đăng trên tạp chí Foreign Affaires ngày 24.11.2015, Thượng Nghị Sĩ Tom Cotton của bang Arkansas nói về cuộc chiến tranh ủy nhiệm đang xảy ra và nêu ý kiến phải làm thế nào để thắng cuộc chiến tranh ủy nhiệm.
Dù thắng hay bại ở Syria, kế hoạch Tá Đao Sát Nhân của Mỹ ở Trung Đông cũng đã đập vỡ được khối Hồi Giáo ở trong vùng ra thành nhiều mãnh, đẩy hai giáo phái Sunni và Shiite vào tình trạng đối đầu với nhau một mất một còn. Đây là một cuộc chiến mà Đức Giáo Hoàng Francis gọi: "Có một một thứ thế chiến thứ 3 diễn ra từng mảnh" (They are a kind of third world war being fought piecemeal). Mỹ và Nga sẽ bán thêm được nhiều vũ khí và khối Hồi Giáo không còn đủ sức mạnh để thực hiện các biến cố lớn trong tương lai gần.
Tuần tới chúng tôi sẽ bàn về chuyện: Mỹ đang làm cho Liên Minh Châu Âu tan rã?
Ngày 25.2.2016
Lữ Giang

Monday, February 29, 2016

Lễ Giỗ 10 Năm Bác Sĩ Nhảy Dù Tô Phạm Liệu

Vong hồn anh linh thiêng, xin về phù trợ cho anh em ráng sống hết cuộc đời còn lại của mình, nếu không được hào sảng và ngang tàng như anh thì cũng đừng làm gì ô uế đến thanh danh của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đừng phản bội anh linh những bằng hữu của mình đã bất hạnh nằm xuống...
*
Thường thường, những người đã từng mặc đồ lính thì luôn luôn yêu đời lính. Tôi cũng thế, nhưng tôi chưa hề thấy một người nào yêu đời lính như ông bác sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu. Anh Liệu yêu đời lính đến độ, phải mặc đồ dù rồi tròng áo saut vào người thì rượu uống mới thấy ngon, cử động ăn nói mới thoải mái tự nhiên được... Những câu chuyện mà anh nói trên bàn rượu, nói tới nói lui, nói đi nói lại rồi thì cuối cùng cũng trở về lính và tất cả những thứ gì có dính dáng tới lính. Đủ thứ lính nhưng dĩ nhiên, lính nhảy dù thì nhiều nhất. Lạ một điều là không bao giờ nghe thấy anh khoe cái nghề tu bíp của mình...
Những ngày lưu vong nơi xứ người, bác sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu làm việc cho nhà thương VA ở thành phố Alexandria, tiểu bang Louisiana. Alexandria là một thành phố nhỏ nằm ở giữa 3 thành phố lớn, thứ nhất là Houston, thứ nhì là Dallas và thứ ba, nhỏ hơn cả nhưng tình hơn cả là New Orleans. Điều đáng nói là từ Alexandria đi đến ba thành phố này, khoảng cách hầu như gần bằng nhau, khoảng 300 dặm...
Có lẽ vì thế, vào những ngày cuối tuần, ông bác sĩ giang hồ này thường có mặt tại một trong ba thành phố này nhiều hơn ở nhà. Tuần thì Dallas, tuần thì Houston và tuần thì New Orleans. Nơi nào cũng có bạn bè của anh, nơi nào anh em cũng nồng hậu đón tiếp anh, nơi nào cũng hứa hẹn những cơn say nghiêng ngửa, những trận cười tới đất.
Những ngày anh Liệu xuống New Orleans, dĩ nhiên, đối với những bạn bè và anh em của anh Liệu như chúng tôi thì thành phố bỗng trở nên tưng bừng như những ngày hội...
Anh Liệu thường đến chiều thứ Sáu và tiệc rượu bắt đầu liền, kéo dài sang ngày thứ bảy, sang đến tối chủ nhật hoặc có khi đến sáng thứ hai, tùy theo hoàn cảnh...
Tôi không thể nào quên được chiếc xe Van màu xanh da trời của anh. Xe không cũ, cũng không mới, chỉ chạy được, coi được. Nhưng nó đưa anh đến tất cả những nơi anh muốn đến...
Lần nào cũng thế, sau khi dừng xe, anh bước xuống, miệng cười hớn hở và tay thì xách cái... túi quân trang vào nhà. Anh vào phòng tắm, rửa mặt mày rồi cởi bộ thường phục ra, tròng bộ đồ hoa rừng của nhảy dù vào người. Tùy theo thời tiết nóng lạnh, anh có thể thêm chiếc áo saut vào...
Lúc anh trở ra trong bộ đồ dù, ai cũng thấy mặt mày anh sáng rỡ. Đó chính là lúc anh sẵn sàng ngồi xuống uống rượu và vui đùa với anh em...
Ai uống rượu với anh Liệu rồi, đều phải công nhận anh uống rượu rất là dễ thương. Anh luôn luôn có những mẩu chuyện cười thủ sẵn trong túi mình và khi cần thì lấy nó ra, kể cho anh em nghe.  Nghe xong thì ai cũng ôm nhau rũ ra mà cười. Cười đến đổ cả rượu, cười đến chảy cả nước mắt...
Nhưng không phải anh Liệu chỉ biết uống rượu. Anh còn bênh vực và lo lắng cho bạn bè nhảy dù của anh. Tôi xin kể lại một chuyện.
Năm 1992, Phan Nhật Nam vừa chân ướt chân ráo sang Mỹ, không hiểu vì một lý do gì đó, nhà văn chống Cộng nổi tiếng của của quân đội bị thiên hạ đánh tơi bời trên báo chí và trên internet. Chúng nó bảo anh Phan Nhật Nam là Việt cộng nằm vùng, là đủ thứ. Khốn nạn thật.
Một buổi chiều nào đó khoảng năm 1992, tôi cùng anh Liệu và một nhóm bạn nhà binh ngồi uống rượu. Tôi bảo:
-Anh Liệu, ngay cả một nhà văn chống Cộng nổi tiếng như anh Phan Nhật Nam mà chúng nó còn dám đội nón cối vào đầu thì khốn nạn thật.
Nhiều người bạn lính tôi chửi thề. Người khác, có lẽ cũng bắt đầu xỉn rồi, đòi... bắn chết mẹ chúng nó.
Anh Liệu chỉ ngồi im, khuôn mặt anh nhăn nhúm lại, đau khổ. Có lẽ anh nghĩ mình bất lực. Anh trầm ngâm một lúc rồi bảo chúng tôi:
-Tao biết thằng Nam từ hồi còn nhỏ, hai đứa tao cùng ở một nhà, đi học chung một trường. Nó làm sao là Việt cộng được...
-Thì ai lại chẳng biết thế...
Rồi anh bảo:
-Tụi mình phải làm một cái gì cho Phan Nhật Nam. Mình không thể ngồi yên nhìn chúng nó đánh Phan Nhật Nam như thế.
Có người nhát gan, bảo nếu mình bênh PNN thì chúng nó đánh mình luôn sao. Anh Liệu lắc đầu cười:
-Mẹ kiếp, thằng nào muốn đội nón cối vào đầu ông xin cứ tự nhiên, ông đây cóc sợ.
Chúng tôi ngồi nói chuyện một lúc và bỗng nhớ ra một chuyện. Thành phố New Orleans hồi đó đã được nổi tiếng là thành phố đầu tiên làm lễ Thượng Kỳ ngày quân lực tại tòa thị sảnh thành phố. Hôm thượng kỳ đầu tiên có cả tướng Westmoreland và nhiều nhân vật cao cấp Việt Mỹ đến tham dự. Theo thông lệ đó, hàng năm, chúng tôi tiếp tục làm lễ thượng kỳ tại tòa Thị Chính. Mỗi một lần thượng kỳ như thế, chúng tôi thường mời một nhân vật quan trọng trong cộng đồng Việt hay Mỹ đến đọc diễn văn.
Chúng tôi nẩy ra ý kiến mời nhà văn Phan Nhật Nam đến đọc diễn văn vào buổi lễ thượng kỳ năm ấy. Trong bàn rượu hôm ấy vô tình có mặt ông chủ tịch hội Cựu Quân Nhân tại Louisiana là ông Nguyễn Văn Phú, trưởng ban tổ chức Lễ Thượng Kỳ. Nghe chúng tôi đề nghị, ông vui vẻ nhận lời ngay.
Nửa tiếng đồng hồ sau, anh Liệu và anh em nhảy dù còn thêm một tiết mục ra mắt sách cho nhà văn Phan Nhật Nam sau khi chào cờ vào buổi tối hôm đó.
Mười lăm năm rồi nhưng tôi còn nhớ lại như mới ngày hôm qua. Ngày hôm đó là một ngày vui. Thật là vui. Anh em lính tráng khắp nơi đổ về tham dự lễ Thượng Kỳ. Phan Nhật Nam hiên ngang và dõng dạc lên đọc diễn văn trong bộ quân phục nhảy dù. Chiều hôm đó là lễ ra mắt sách, và sau đó, chúng tôi nhập tiệc, nhậu nhẹt gần đến sáng...
Kể từ ngày đó, bọn khốn nạn nào đã đánh Phan Nhật Nam bỗng dưng chùn tay lại và từ từ im tiếng, rút vào bóng tối luôn.
Một kỷ niệm vui khác về anh Liệu, xin cho phép tôi kể ra đây. Hồi thân phụ tôi mới sang Mỹ, gia đình chúng tôi làm một bữa tiệc đãi bác sĩ Liệu. Tuy chúng tôi coi nhau như anh em nhưng khi thân phụ biết con mình quen ông bác sĩ nổi tiếng Tô Phạm Liệu thì lấy làm hãnh diện lắm, nhất định phải mời ông bác sĩ tới nhà dùng cơm cho được.
Tiệc vui bắt đầu rất nhộn nhịp. Thân phụ ngồi ở đầu bàn bên kia, bác sĩ Liệu ngồi ở đầu bàn bên này, tôi ngồi... kẹt ở giữa một đám anh em, mọi người cười cười nói nói vui vẻ, chan gắp ào ào, nốc rượu liên miên, tưng bừng vui vẻ...
Đến một lúc nào đó, giữa bữa ăn, tôi bỗng nghĩ ra một chuyện để chọc bác sĩ Liệu và có thể đùa với thân phụ một chút. Tôi làm mặt nghiêm trang, rầu rầu hỏi bác sĩ Liệu giữa bàn tiệc:
-Anh Liệu, anh là bác sĩ, em có bị chứng bịnh này mà chữa hoài không khỏi, bây giờ gặp ông bác sĩ ở đây, không biết nói ra anh có thể chữa được cho em không"
Cả nhà tôi khi nghe như thế, nhất là mẹ tôi và thân phụ nhìn tôi lo lắng, không biết tôi có bịnh gì mà cả nhà chẳng ai biết. Chỉ có mình anh Liệu có lẽ đoán tôi sắp sửa đùa giai nên liếc nhìn tôi và cười cười bí mật.
Anh bảo, làm như chẳng biết gì:
-Thì cậu cứ kể bệnh tôi nghe thử. Nếu có thuốc thì tôi cho, không thì tôi giới thiệu đến bác sĩ khác chữa cho cậu. Mình ở trên đất Mỹ mà.
Tôi nói, vừa nói vừa làm bộ mặt nghiêm trang, ráng giữ cho đừng cười:
-Anh Liệu, em bị cái bệnh gì không biết mà đi đâu, hễ gặp... đàn bà con gái đẹp thì cứ phải quay đầu lại mà nhìn, nhìn mãi không thể nào bỏ được. Anh có thuốc gì cho em uống cho bỏ cái bệnh... nhìn gái này...
Cả nhà cười rộ lên. Anh Liệu chờ cho tiếng cười lắng xuống rồi mới bình thản trả lời:
-Trời ơi, nếu cậu gặp đàn ông đẹp giai mà nhìn như thế thì thật là nguy hiểm, cần phải cho thuốc uống gấp gấp chứ gặp đàn bà con gái đẹp mà nhìn như thế thì... tốt lắm, chẳng có bệnh gì cả. Thú thật là tôi cũng giống cậu, gặp đàn bà con gái đẹp là cứ lõ mắt ra mà nhìn. Cậu cứ tiếp tục nhìn đi, chẳng sao cả...
Cả nhà lại cười rộ lên một lần nữa...
Đấy, những lần đi uống rượu với anh Liệu, dù ở trong hàng quán, dù ở trong nhà, hay dù bất cứ ở đâu, anh Liệu cũng tếu và lanh trí như thế cả.
Kiến thức về y học của anh Liệu như thế nào thì tôi không biết, nhưng kho tàng tiếu lâm và chuyện đời của anh Liệu thì sâu thăm thẳm, không bao giờ hết. Hơn thế nữa, hễ nói về nhảy dù thì anh Liệu có thể nói đến cả ngày mà vẫn chưa hết chuyện. Nhảy dù Việt Nam được thành lập như thế nào, bắt đầu ra sao, anh kể vanh vách từ ngày thành lập, từng người tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng, không thiếu một ai. Không phải chỉ có nhảy dù Việt Nam mà ngay cả nhảy dù Anh, nhảy dù Pháp, nhảy dù Lê Dương, nhảy dù Mỹ, nhảy dù Do Thái anh cũng đều biết tường tận, rõ ràng từng chi tiết. Anh kể tụi SAS (Special Air Service) của Ăng Lê được huấn luyện kỹ lưỡng như thế nào, bọn SEAL Mỹ trưởng thành ra sao từ đệ nhị thế chiến v.v...
Ngồi nói chuyện với anh, nếu không biết anh là bác sĩ thì ai cũng tưởng anh là một nhà nghiên cứu quân sự. Anh là dân bộ binh mà anh lại biết rất nhiều về phi cơ, từ trực thăng cho đến phóng pháo phản lực của Không Quân. Không Quân đã rành, Hải quân cũng rành luôn. Những tàu chiến của Hải quân như tiềm thủy đỉnh, hàng không mẫu hạm anh cũng biết rành rẻ. Chiếc hàng không mẫu hạm này trọng tải bao nhiêu, có bao nhiêu mã lực, anh đều biết rõ. Chưa hết, ai muốn biết hỏa tiễn ICBM của Mỹ tầm bắn bao nhiêu ngàn dặm, mang đầu đạn nguyên tử bao nhiêu Mega-ton anh cũng cắt nghĩa cho nghe...
Tôi biết anh đã bỏ rất nhiều thì giờ để nghiên cứu những chuyện này vì đó là một đam mê của anh...
Dĩ nhiên, trong những tiệc rượu, một trong những đề tài mà anh em thường hỏi anh nhiều nhất là trận đánh đã đi vào quân sử ở đồi Charlie, nơi đã đón nhận hình hài của đại tá Nguyễn Đình Bảo và đồng thời cũng đưa tên tuổi anh cùng vài người khác lên hàng những anh hùng của quân dân Việt Nam qua ngòi bút tuyệt vời của Phan Nhật Nam.
-Ngày tiểu đoàn xuống Charlie, tao đang còn chống gậy vì bị trật chân...
Anh luôn luôn bắt đầu như thế rồi cười khì một phát:
-Mẹ... tụi tao vừa đi hành quân về, đang dưỡng quân ở vườn Tao Đàn. Bố khỉ, lính uống rượu say lấy súng bắn chỉ thiên thế nào không biết, ngày hôm sau tiểu đoàn bị bốc đi. Mẹ, thế là hết dưỡng quân, đành khăn gói lên đường.
Hôm đó, anh bị trật chân chưa lành, nhảy xuống đồi Charlie còn phải chống gậy, đi khập khiễng. Nếu anh muốn, anh có quyền xin dưỡng thương ở nhà nhưng anh không muốn. Anh muốn đi với anh em...
Tiểu đoàn 11 dù đã bị pháo của Bắc Quân cường tập như thế nào, mọi người đã biết, nhưng phải nghe đích thân anh Liệu kể mới thấy thấm thía. Từng giây từng phút một trên ngọn đồi Charlie, quân ta đã oằn oại chịu đựng những cơn mưa pháo của đối phương. "Mẹ, chúng nó bắn không trật một quả ra ngoài," anh Liệu bảo thế, mặt hơi nhăn lại.
Một lần, trong một đợt tấn công, anh Liệu đứng lên khỏi giao thông hào, móc cây Colt .45 của người y sĩ ra, bắn vào Việt cộng. Ông trung tá cố vấn tiểu đoàn người Mỹ tên Duffy nhìn thấy. Sau trận đó, ông cố vấn làm một bài thơ tả lại trận đánh và kể chuyện ông bác sĩ nhảy dù dùng Colt .45 để bắn nhau với Việt cộng. Sau khi sang Mỹ, ông gởi tặng anh Liệu một tập thơ và anh Liệu đã đem tặng tôi. Tôi quý tập thơ lắm và gìn giữ như một báu vật.
Bài thơ của ông trung tá nhảy dù Hoa Kỳ tên Duffy nguyên văn như sau trong tập thơ Warman, tôi xin copy lại nguyên bản để tặng anh em:

Courage
The Doc have been shot at
Oh, Lord! He has his gun out!
Sighting, Aiming and Shooting
At a cannon with a Forty-Five

He is hit and down
But not for long,
Back up again,
Sighting, Aiming and Shooting

Trying to knock out a cannon,
With his Forty-Five
God, isn't he rediculous"
But he has courage.
Duffy (Warman)

Tạm dịch:
Can Trường
Ông bác sĩ bị bắn
Trời đất ơi, ổng rút cây súng ra
Chuẩn bị, nhắm và bắn
Vào cây đại pháo bằng khẩu 45
Ông bị bắn và té xuống,
Nhưng không lâu
Lại đứng lên trở lại,
Chuẩn bị, nhắm và bắn

Ông gắng tiêu diệt cây đại pháo,
Bằng cây súng 45
Trời hỡi, ông ta thật là nực cười
Nhưng ông ta thật là can trường.

Đọc bài thơ này của một người cố vấn Mỹ, tôi không ngờ anh Liệu lại can trường như thế. Điều đặc biệt là anh không bao giờ kể lại sự can trường của mình. Anh luôn luôn bảo, rất thành thực "Tao chả ngon lành gì, nhưng người ta sao thì mình vậy."
Một ngày anh Liệu cùng tôi ngồi cưa mấy chai vang của anh đem xuống. Tự nhiên anh nhìn tôi nói:
-Đức Khổng Tử bảo "Khi tiễn đưa nhau, kẻ tiểu nhân tặng nhau lễ vật, nhưng người quân tử thì tặng nhau những lời hay ý đẹp." Mày là nhà văn, tao có cuốn sách muốn tặng cho chú mày."
Rồi anh mở va li lấy tập thơ "Warman" của ông trung tá cố vấn Duffy đã tặng cho anh, đưa cho tôi. Đây là một chuyện lạ nhưng tôi lúc ấy tôi không để ý lắm vì rượu đã ngà ngà say.
Sau này nghĩ lại về tập thơ tôi mới thấy giật mình kinh hãi. Điềm gở gì đây" Tại sao đương không anh lại tặng cho tôi tập thơ rồi lại còn kéo ông Khổng về để bảo "Người quân tử dùng lời hay ý đẹp để tiễn đưa nhau…" Tại sao lại "tiễn đưa." Bình thường, anh Liệu là một người rất kiêng cử. Mỗi khi sưu tầm được một cái áo saut đẹp, anh lấy tặng cho tôi nhưng luôn luôn bảo: "Tặng áo là một dấu hiệu của sự chia tay. Tao bán cho mày cái áo này chứ không tặng. Lấy đưa tao một đô la rồi ra ngồi uống rượu." Tại sao bây giờ bỗng dưng anh lại tặng cho tôi một tập thơ quý giá nhất của anh"  Tôi cảm thấy có điều gì không ổn.
Thật thế, lần uống rượu hôm ấy là lần cuối cùng tôi uống với anh. Sau hôm đó, anh không còn xuống New Orleans thường nữa. Có khi cả mấy tháng anh không xuống một lần, nhưng xuống là đi ngay, không ghé ai cả.
Tôi không biết chuyện gì xảy ra nhưng tôi nhớ lại một chuyện như thế này.
Hồi đó, anh Liệu xuống New Orleans thường ngủ lại nhà tôi và một buổi sáng, sau khi anh đi rồi, vợ tôi vào dọn phòng và tìm thấy một ống Insulin, loại ống chích dành cho người bị tiểu đường. Vợ tôi ngày xưa làm trong nhà thương nên biết rõ loại này. Nàng hỏi:
-Ông bác sĩ bạn anh bị bệnh tiểu đường phải không anh"
Hồi đó tôi đâu biết gì, nên lắc đầu. Nàng đưa ống thuốc cho tôi coi và nói:
-Nếu không thì làm sao ảnh lại sử dụng ống chích này. Đây là ống chích dành cho những người bị bệnh tiểu đường…
Chúng tôi nhìn nhau im lặng, không nói gì thêm. Một lúc, vợ tôi phê bình một câu, vô thưởng vô phạt:
-Bị tiểu đường mà uống rượu được như thế thì hay thật.
Năm cuối cùng và không lâu trước khi anh vĩnh viễn ra đi, một ngày thứ bảy, tôi đang ngồi viết thì chuông điện thoại nhà reo vang. Tôi nhấc máy lên và mừng húm khi nghe tiếng anh Liệu trong ống nói. Hình như đã hơn một năm rồi tôi chưa được gặp anh. Tôi tưởng anh ghé nhậu nên hỏi anh đang ở đâu, chừng nào đến tôi hay tôi sẽ tới bất chỗ nào đó mà anh đang ngồi nhậu.
Anh Liệu trả lời, giọng buồn buồn:
-Anh đang ở Phở Hòa ngồi nói chuyện với Thinh và Thắng nhỏ nhưng anh phải đi liền…
Nghe nói anh ngồi với Thinh và Thắng thì tôi càng mừng hơn nữa vì hai tay này cũng là dân nhảy dù, cũng là dân bợm nhậu… tới bến. Nhưng những tay đại hảo hán nhảy dù này gặp nhau vào một buổi sáng thứ bảy, nếu không nhậu thì để làm gì mà anh Liệu phải đi liền" Chuyện này khó hiểu.
Tôi cực lực... phản đối:
-Anh nói thế nghe không được anh Liệu. Anh không tới đây thì chờ đấy em ra liền…
Anh Liệu ngập ngừng một chút rồi nghẹn ngào cất giọng, buông một câu mà tôi nghĩ là câu nói đau đớn trong đời anh:
-Anh không uống rượu được nữa rồi Nhị ơi... 
Tôi hoảng kinh, thở phì ra một phát, ngờ ngợ một chuyện gì kinh khủng lắm đã xảy ra. Im lặng một lát, anh tiếp:
-Anh có chuyện phải ghé qua New Orleans, gọi thăm em chút mà...
Tôi bàng hoàng đau đớn, hỏi dồn dập. Anh không trả lời, chỉ vắn tắt gởi lời thăm anh em tôi và gia đình tôi. Thấy anh như không muốn gặp tôi, tôi không dám ép. Gác điện thoại lên giá, tôi ngồi thừ ra suy nghĩ, thấy lòng mình chùng xuống, đau đớn vô cùng.
Sau đó, tôi tìm hiểu và nghe anh Liệu bị bệnh nặng lắm, bụng xưng to lên. Thỉnh thoảng anh vẫn còn về New Orleans để khám bệnh hay làm gì đó nhưng anh không còn muốn gặp anh em nữa. Nhiều người không hiểu vì sao nhưng tôi hiểu. Con người của anh Liệu là hiện thân của sự vui đùa sung sướng. Bây giờ anh không còn vui được, không còn uống rượu được, hơn nữa, hình hài bị tàn phá, anh không muốn anh em nhìn thấy anh như thế, sợ anh em buồn. Anh cao cả làm sao!
Rồi một ngày, anh Liệu nằm xuống. Nơi anh nằm xuống là thành phố Alexandria, tiểu bang Louisiana. Alexandria là một thành phố rất khiêm nhường của một tiểu bang khiêm nhường nhất Hoa Kỳ. Alexandria một thành phố nhỏ nằm hiu quạnh như bị chôn kín giữa những rừng thông chập chùng bất tận. Alexandria với những người nông dân chất phát quê mùa của miền Nam nước Mỹ. Alexandria nơi người Việt ở đếm không quá mười đầu ngón tay. Alexandria, nơi bác sĩ Liệu âm thầm sinh sống và âm thầm hành nghề tu bíp sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ. "Alexandria chả có mẹ gì", anh Liệu thường nói như thế, cặp mắt buồn buồn.  Alexandria, thành phố u buồn ấy, cuối cùng, đã đón nhận hình hài của một người y sĩ, một người lính nhảy dù Việt Nam...
Alexandria, hay A Lịch Sơn thành, ngậm ngùi và đau đớn làm sao...
Tô Phạm Liệu, người bác sĩ nhảy dù, người đã tham dự không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ trong một binh chủng hung hãn và tài giỏi nhất của quân lực, người đã lê đôi giày trên khắp bốn vùng chiến thuật để bảo vệ tổ quốc và đồng bào mình, người đã trở thành anh hùng sau trận Charlie, người mà pháo giặc dù cho hung hãn đến mấy cũng không hề đụng đến được một sợi lông ở đồi Charlie, người mà cuối cùng, đã đi nửa vòng thế giới để làm một người tị nạn, người ngày xưa đã chữa trị và cứu sống không biết bao nhiêu binh sĩ dưới bầu trời lửa đạn, và người bây giờ đem niềm vui cùng nụ cười đến cho không biết bao nhiêu anh em đồng đội, đã vội vàng và âm thầm nằm xuống ở một lứa tuổi còn quá trẻ.
Anh Liệu đi rồi, chén rượu bọn em uống bây giờ không còn thấy như ngày xưa nữa, như thiếu thiếu một cái gì...

*
Mùa hè (lại mùa hè) năm 2005, bão Katrina tàn phá thành phố tôi ở, làm tôi khăn gói lên đường tị nạn. Tôi lái xe lên hướng bắc, rồi kẹt đường phải vòng về Tây Nam rồi sau đó lấy hướng đi Dallas. Đoạn đường chỉ có 500 dặm mà tôi lái hơn hai ngày chưa tới vì hàng chục ngàn chiếc xe dồn dập, chen lấn nhau. Tốc độ trung bình khi nào mau lắm là 30 dặm.
Một ngày sau vào buổi chiều gần tối, xe đang chạy phom phom trên đường, tôi bỗng ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm biển trước mặt: "Alexandria chào mừng quý khách." Tiếp theo đó là tấm biển khác đề như sau: "Alexandria Next Three Exit."
Tôi giật mình và nghĩ đến anh Liệu. Đây chính là nơi anh đã sống những ngày cuối cùng. Trời về chiều, tôi đưa mắt nhìn chung quanh, chỉ thấy rừng rậm xanh rì. Tôi nhớ đến cái tên của thành phố nơi anh ở, thành phố PineVille, tức thành phố những cây thông. Alexandria, hay A Lịch Sơn Thành, thành phố của anh Liệu. Hồi còn sống, anh thường đùa với chúng tôi, nói như sau trong những buổi tiệc rượu:
-Biệt hiệu của tao là: A Lịch Sơn Thành, Cuồng Thái Y, Việt Nhảy Dù, ẩm sĩ Tô Phạm Liệu.
Sợ chúng tôi không hiểu, anh cắt nghĩa như sau:
-Này nhé, A Lịch Sơn Thành tức là thành phố Alexandria, Cuồng Thái Y tức là bác sĩ chữa bệnh điên, Việt Nhảy Dù bởi vì tao là lính Việt nhảy dù, ẩm sĩ tức là người uống rượu, Tô Phạm Liệu chính là tao.
Chúng tôi ai nấy cười rộ. Anh có vẻ khoái cái biệt hiệu này lắm, cứ lập đi lập lại hoài trong những lần nhậu, ra chiều rất đắc ý về cái tên của mình...
Chiều hôm đó, một buổi chiều oi bức và một mình tôi trong một chiếc xe hơi chạy đi trốn bão, tôi cảm thấy nhớ anh vô cùng. Tôi toan ghé vào một exit nhưng thành phố nhỏ quá, chỉ chớp mắt chiếc xe của tôi đã vượt qua 3 cái ngõ vào. Tôi đi luôn và định bụng, khi hết bão trở về, tôi sẽ ghé thăm thành phố anh ở.
3 tuần sau cơn bão, tôi quay trở về và lúc lái xe ngang qua Alexandria thì trời đã tối đen như mực. Tôi quẹo vào ngõ rẽ và dừng xe ở cây xăng đầu tiên. Tôi xuống xe đi một vòng và chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ bóng đêm dày đặc. Tôi bước vào đổ xăng và tự hỏi lòng mình, không biết anh Liệu đã dừng xe ở đây để đổ xăng bao nhiêu lần trước khi anh đi nhậu hoặc khi anh đi nhậu trở về. Anh đã nghĩ gì trong những lần ấy"
Tự nhiên, tôi thấy nơi anh ở buồn quá. Buồn và cô quạnh, và không hiểu sao, tôi có thể nói là thê lương nữa. Tôi không biết anh nghĩ gì trong đầu mỗi lần đứng ở đây bơm xăng. Anh nghĩ gì không biết nhưng chắc anh phải cô đơn và nhớ bạn bè lắm.  Có cô đơn như thế anh mới phải đi nhiều. Đi nhiều để tìm những trận cười, để nói chuyện và tán dốc với anh em bạn bè... Đi để tìm lại những vùng trời đã bị đánh mất.
Sau đó, vì công việc, tôi phải lưu vong về thành phố Dallas sống, làm một anh cao bồi bất đắc dĩ. Tháng 9 năm ngoái, 2006, anh em nhảy dù ở Dallas làm lễ giỗ anh Liệu. Tôi đến nơi thấy bàn thờ anh đã được trang hoàng tề chỉnh, bạn bè đang đứng thành từng nhóm nói chuyện. Tôi tới trước bàn thờ anh Liệu, tính đốt nhang nhưng nhìn lại, tôi thấy hình như bàn thờ còn thiếu thiếu một cái gì. Nhìn kỹ hơn, tôi thấy nhang đèn hoa quả đầy đủ và biết thiếu cái gì liền. Tôi chạy ra xe, lấy hai chai rượu mình mang theo lễ mễ đặt lên bàn thờ anh.
Một người nào đó lột cái mũ đỏ mình đang đội trên đầu và đội lên tấm hình của anh...
Bây giờ thì tôi có thể đốt nhang và khấn vái. Tôi niệm với linh hồn anh đang tiêu diêu ở một nơi nào đó, xin anh về đây chứng dám cho tấm lòng thành của những người bạn, người em của anh.
Anh ra đi lúc tuổi còn quá trẻ, để lại không biết bao nhiêu là thương nhớ trong lòng mọi người. Sinh ra trong thời ly loạn, anh đã mặc áo nhà binh để phụng sự tổ quốc mình và đã trở thành một anh hùng cho thế hệ chúng tôi. Anh chính là một Lệnh Hồ Xung của đời. Lệnh Hồ Xung của nhảy dù Việt Nam. Tôi may mắn và hãnh diện biết bao khi được quen biết với anh, được anh coi như một đứa em, một người bạn.
Nhà văn Phan Nhật Nam đứng lên tuyên bố lời khai mạc. Sau đó, từng người một lên nói về anh. Tôi cũng lên, lí nhí vài lời, kể lại vài kỷ niệm với anh, nhưng không nói được nhiều. Nước mắt tôi chan hòa.
Mùa Xuân năm 2007, tôi bay sang Santa Anna đi nhậu với em của anh Liệu, ông Tô Phạm Thái. Trời đất, tôi tưởng ông Thái, em ông Liệu thì chắc phải biết uống rượu không nhiều thì ít. Nào ngờ, ông ấy chỉ uống cô ca làm cho tôi… thất vọng vô cùng. Ông Thái cũng có máu tếu giống như anh Liệu nhưng nói chuyện chẳng biết chửi thề, mặt mũi coi hiền lành ngoan ngoãn như một ông bụt. Chán bỏ xừ. Hình như, trong thiên hạ có bao nhiêu bồ rượu thì anh Liệu đã giành uống hết rồi, chẳng để cho ông em được bao nhiêu.
Chúng tôi ngồi ở một quán phở và tôi nói chuyện về tập thơ "Warman" mà anh Liệu tặng tôi hôm nào. Tôi bảo anh Thái đây là một sản phẩm vô cùng quý giá và tôi tự cảm thấy mình không đủ vinh hạnh để lưu giữ. Tôi muốn hoàn trả báu vật này lại cho gia đình anh Liệu. Đây không phải là một tập thơ thường mà một tập hồi ký trung thực viết dưới dạng thơ của một ông trung tá trong quân đội Hoa Kỳ. Không phải viết bằng mực mà bằng máu và nước mắt của những người lính nhảy dù Việt Nam…
Đây là một minh chứng hùng hồn về những can trường, những hy sinh vĩ đại, những uất hận khôn nguôi qua những trận đánh đẫm máu đến độ kinh hoàng của những người lính Việt Nam, không phải do một người lính Việt Nam viết mà một người lính Mỹ đã từng phục vụ với những người lính Việt Nam viết lại. Cuối cùng, đây một thiên hùng sử ca trung thật nhất dành cho một binh chủng oai hùng nhất của một quân lực cô đơn nhất, bất hạnh nhất trên thế giới. Một quân lực đã bị phản bội trắng trợn và bị bỏ rơi dễ dàng...
Con cháu anh Liệu cần có những tài liệu này làm hành trang cho chúng nó bước xuống cuộc đời. Với tập thơ này, chúng nó sẽ hãnh diện mà ngẩng mặt lên để nhìn đời, để chiến đấu và để hy vọng… Một tập thơ nhỏ không thể nào nói lên hết một cuộc chiến bi hùng kéo dài hàng chục năm với hàng triệu người ngã gục, nhưng cũng nói lên được một phần nào, dù rất nhỏ, cuốc chiến đấu và sự hy sinh can trường của cha anh, của một thế hệ…
Thôi nhé anh Liệu. Cuộc đời mà. Ai trong chúng ta rồi cũng đến một ngày phải chia tay mà thôi. Tử Biệt Sinh Ly. Sinh ra là chia lìa, chết đi là từ biệt, người xưa đã nói vậy. Điều quan trọng và đáng kể là ngày xưa anh đã sống một cuộc đời oai dũng và ngoại hạng. Ngày hôm nay lưu vong trên xứ người, tuy sống âm thầm lặng lẽ, nhưng anh vẫn giữ được tâm hồn hiên ngang bất khuất, coi rẻ tiền tài danh vọng, một lòng tận trung với tổ quốc, hết lòng với anh em bạn bè.
Trên đời này, dễ thử, có bao nhiêu người được như anh, anh Liệu"
Vong hồn anh linh thiêng, xin về phù trợ cho anh em ráng sống hết cuộc đời còn lại của mình, nếu không được hào sảng và ngang tàng như anh thì cũng đừng làm trò gì ô uế đến thanh danh của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đừng phản bội anh linh những bằng hữu của mình đã bất hạnh nằm xuống. Vong hồn anh bất khuất, xin trở về phù trợ cho những chiến sĩ chống Cộng được thành công trong việc quang phục quê hương, lật đổ chế độ Cộng Phỉ bạo tàn đang làm tan nát quê hương...
Hỡi A Lịch Sơn Thành Cuồng Thái Y, Việt Nhảy Dù, Ẩm Sĩ Tô Phạm Liệu ơi, Trường Sơn Lê Xuân Nhị này thương nhớ anh vô cùng…

Y sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu- Ra đi không mang va li


Cách ðây ðã lâu, lâu lắm, gần 40 năm về trước, mà tôi vẫn cảm thấy như ngày hôm qua, vào một buổi chiều thứ Bảy giữa mùa hè tôi gặp Tô Phạm Liệu lần ðầu tiên ở Colorado, anh ði theo một số bạn bè từ Denver xuống Colorado Springs thãm tôi.  Qua Mỹ chưa ðầy một năm, khi ðó vợ chồng tôi còn rách như xơ mướp. Vợ tôi tận tụy, bươn chải, còn tôi ði làm part time ðể dành thì giờ cắp sách ði học thêm ở University of Colorado. Chúng tôi thuê một cãn nhà nhỏ ở gần hồ  Prospect Lake,  cách thành phố Denver  khoảng 75 dặm. Cãn nhà có gian bếp nhỏ nhắn, cũ kỹ, chỉ ðủ chỗ cho hai vợ chồng tôi và ðôi, ba người khách ngồi ãn cơm thanh ðạm là cùng, thế mà bạn bè cuối tuần cứ ùn ùn kéo tới.  Cứ tự nhiên như người Hà Nội, như ãn nhà hàng La Pagode (ãn chùa), chẳng cần thắc mắc ðiều chi.
Không ðủ chỗ thù tiếp ðám bạn, có khi lên tới hàng chục người từ xa tới, chúng tôi phải trải tấm vải nhựa xuống mặt thảm giữa phòng khách, chén chú, chén  anh, chén thù, chén tạc.  Bắt chước người xưa: “Dục phá thành sầu dụng tửu binh”.  Cái sầu mất nước, cái sầu bỏ lại vợ con, cha mẹ, bỏ lại bạn bè.  Cái sầu phiêu lạc nơi ðất khách quê người, cái sầu ðang ðánh ðấm tưng bừng mà sao bỗng nhiên có những ông xếp lớn chợt nhiên lỉnh mất, sau những câu hứa hẹn chắc như cua gạch là sẽ ở lại chiến ðấu tới cùng . . .
Trong ðám bạn bè hôm ðó có dãm ba người phi công, hai ba chàng hải quân và mấy ông lính nhảy dù.  Ðầy ðủ Hải, Lục, Không quân.  Mặt mũi tên nào cũng còn trẻ mãng, chỉ mới xấp xỉ ba bó.   Trong số ðó có lẽ Tô Phạm Liệu là lớn hơn cả, khi ấy anh khoảng 35 tuổi.  So với tụi tôi dù tuổi tác, học hành bằng cấp có phần chênh lệch nhưng anh chẳng hề câu nệ.  Không quân và Nhảy Dù như có một cái liên hệ tình cảm ðặc biệt, chỉ sau một vài ly sương sương là bắt ðầu mày tao, chi tớ, coi như là bạn vàng biết nhau từ thuở còn ở truồng tắm mưa.  Chúng tôi ngồi uống rượu tới gần sáng, nói chuyện ðời lính, chuyện trên trời dưới ðất, ngậm ngùi nhắc tới bạn bè vắng mặt, khật khù bên ly rượu mắt ngấn ðỏ. Cũng có ðôi khi cười vỡ nhà với những câu chuyện bù khú.  Tô Phạm Liệu uống rượu không biết say, nói chuyện không biết mệt, anh thao thao bất tuyệt:
“Tao là lính Nhẩy Dù.   Ông về từ Charlie mùa hè ðỏ lửa 72 ðó mày biết không?  Tụi mày thả bom ðược ðấy, chì lã́m, A-1 và A-37 mỗi lần ðánh ðề bỏ hết bom và bã́n ðến viên ðạn cuối cùng dù phòng không hỏa tiễn của vẹm bã́n lên như mưa. Tao thấy thằng A-1 bị trúng hỏa tiễn mà thương nó, tàu nó cháy bùng giữa không gian rồi cã́m xuống bên sườn ðồi . . . Hình như cái thằng thiếu úy ðẹp trai, trẻ mãng sắp lấy con gái tiệm ãn Hương Giang gì ở Pleiku thì phải ? . . . Chúng mày ðừng cứ gọi ông là bác sĩ, bác sĩ ðếch gì! Ông là lính nhẩy dù:  “Ra ði không mang va-ly, quần áo cứ thế ðút túi . . .
oOo

Tô Phạm Liệu dáng người khá to lớn, ðẹp trai, trắng trẻo, nói chuyện dí dỏm, có duyên.  Khi mới gặp, tôi không ngờ anh là lính tác chiến, Y sĩ trưởng Tiểu ðoàn 11 Nhẩy dù, vì trong ðầu óc tôi vẫn in ðậm hình ảnh những người lính trận phải mang nét mặt sạm nắng, gân guốc, phong trần.  Ðâu có ai dáng dấp phong nhã như Tô Phạm Liệu “gươm ðàn nửa gánh, non song một chèo”, bao nãm trấn thủ lưu ðồn ở Vùng II Chiến Thuật, ðầy tâm hồn vãn nghệ, xúng xính thơ phú.
Từ trái sang phải: Tô Phạm Liệu, Phạm Chí Thăng,  Phạm Chí Bảo, Lê Trung Hiếu
Từ trái sang phải: Tô Phạm Liệu, Phạm Chí Thăng,
Phạm Chí Bảo, Lê Trung Hiếu
Tuy cùng một tên họ với thi sĩ Tô Ðông Pha làm quan dưới ðời nhà Tống bên Tầu, lừng danh kim cổ với hai bài phú Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích, nhưng ông quan tu-líp họ Tô tên Liệu, dù mê thơ nhưng không có tài làm thơ, ông chỉ thích kể lại thời oanh liệt, chuyện “Tiền ðồn Charlie” và “… Hậu ðồn Charlie”, mà mỗi lần nhắc tới người nghe như cảm ðược nỗi ngậm ngùi trong từng tiếng nói, ðau xót trên từng thớ thịt khi nhắc ðến tên bạn bè.
Ðốc tờ Tô có biệt tài ðọc thơ, ðọc phú, dù thơ phú lượm lặt ở những buổi trà dư tửu hậu, hay tự phịa ra, chẳng câu nệ cú pháp, anh vẫn làm cho mọi người thích thú vì luôn hàm chứa tính hài hước, tiếu lâm.  Những lần bạn bè họp mặt có anh là không khí trở nên vui nhộn, sống ðộng, dù các bà khó tính, giữ chồng như giữ của, mặt mũi lúc nào cũng ðăm chiêu, nhãn nhó kinh niên, cũng ôm bụng cười hả hê, cười chảy cả nước mắt, cười bò ra sàn nhà. Và dù ông chồng có mạ̃t lỳ mày lợm có ngồi lại ðụng ly, ðụng chén với bạn bè tới sáng, say ngỏm củ teo, những bà thuộc loại chằng lửa cũng chẳng lườm, chẳng nguýt, chẳng mặt nặng, mày nhẹ, mặt xưng, mày xỉa. Chẳng ðanh ðá chua cay xỉa xói bạn bè.
Trong cái chặng ðường phiêu bạt của cuộc ðời di tản buồn thê lương của người lính chiến buộc lòng rũ áo, một nhóm bạn bè cũ, mới, bỗng nhiên cảm thấy gần gũi nhau, thương nhau hơn. Thương cho thân phận lãng nhách ðột nhiên bị ðẩy vào giữa cái xã hội vàng thau lẫn lộn, bạc tình, bạc nghĩa, ãn cháo, ðá bát, qua cầu rút ván, coi ðồng ðô la to bằng cái bánh tráng.  Mấy mợ gặp nhau thì khoe khoang, ganh tỵ:  Hột chị nhỏ, hột em to, hột chị tròn, hột em méo, hột em trã́ng, hột chị ðen . . . Trước cái sự lố lãng trong ðời tha phương ðó, Tô Phạm Liệu  tức cảnh sinh tình, anh thường châm chọc:
Chồng chị giầu chị đeo vàng, đeo ngọc Chồng em nghèo em nắm chắc con cu Một mai bóng xế trăng lu, Ngọc vàng chị mất mà con cu em vẫn còn.
Anh hay cất giọng cười sảng khoái sau những lần ngâm thơ tiếu lâm như vậy, hoặc những khi nhái thơ ông Nguyên Sa:
Nắng Saigon anh đi mà chợt “rét” Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông “Lụa Hà Ðông 5 ngàn đồng một thước Mà sao em nỡ xé 4, 5 mầu”
Anh vui với ðời sống bình dị, không ðua ðòi, chỉ thích gần bạn bè nhất là những người với anh ðã một thời lao vào lửa ðạn trong cuộc chiến tàn khốc, cố gìn giữ phần ðất miền Nam tự do.  Tôi nhớ có dạo anh lên một bệnh viện thuộc một thành phố nhỏ phía bắc Dakota ðể tu nghiệp ngành chuyên môn, nhưng chỉ 3 tháng sau anh bỏ dở, quay về lại Denver.  Trước khi anh ði tôi cũng ðoán trước ðược ðiều ðó.  Tô Phạm Liệu không thể sống thiếu bạn bè.
Anh cảm thấy thoải mái khi ngồi quay quần, không kiểu cọ, khách sáo giữa ðám bạn thân tình cười nói tự nhiên.  Nhưng cũng có ðôi khi tôi chợt thấy anh ngồi thừ người trước ly rượu, mắt nhìn vào bóng tối mông lung bên ngoài khung cửa sổ.  Như nỗi ðau buồn nào từ những ngày tháng xa xưa bỗng dưng trở lại mà những ly rượu cay, những tiếng cười rộn rã không ðủ che giấu những vết thương nhức nhối trong lòng.  Hình ảnh ðồn Chalie và người anh cả Trung tá Nguyễn Ðình Bảo mà chính tay anh ðã bãng bó trước khi hy sinh, những ðêm bãng rừng lội suối, dìu ðồng ðội bị ðầy thương tích, mà anh nhiều lần nhắc tới, như hiện về trong ký ức.  Anh thường cất giọng ngâm bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
…………..
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta ðợi chết mảnh mặt trời gay gắt. ……… Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?
Hoặc ðôi khi ðập tay xuống bàn, mắt trợn trừng nhìn vào bóng tối, ngâm bài “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm:
Ðưa người ta không ðưa qua sông  Sao có tiếng sóng ở trong lòng?  Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,  Sao ðầy hoàng hôn trong mắt trong?
 
Ðưa người, ta chỉ ðưa người ấy  Một giã gia ðình, một dửng dưng…
 
Ly khách! Ly khách! Con ðường nhỏ,  Chí lớn chưa về bàn tay không,  Thì không bao giờ nói trở lại!  Ba nãm mẹ già cũng ðừng mong.
……………….

Người ði? Ừ nhỉ, người ði thực!  Mẹ thà coi như chiếc lá bay,  Chị thà coi như là hạt bụi,  Em thà coi như hơi rượu say.
 
Mây thu ðầu núi, gió lên trãng Cơn lạnh chiều nao ðổ bóng thầm.  Ly khách ven trời nghe muốn khóc, Tiếng ðời xô ðộng, tiếng hờn cãm. 
Khoảng giữa nãm 1981, Tô Phạm Liệu hành nghề ở một bệnh viện sát biên giới hai tiểu bang Kansas-Colorado.  Dù ở cách xa Denver trên 200 miles, nhưng gần như mỗi tuần anh ðều lái xe về Denver, chúng tôi một nhóm bạn bè lại hú nhau tụ tập, chén chú, chén anh, chuyện trò thâu ðêm suốt sáng.

Vào cuối thập niên 1980 anh ðổi ði làm việc ở một bệnh viện cựu chiến binh ở thành phố Alexandria, Louisiana, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau, chỉ thỉnh thoảng gọi ðiện thoại hoặc nhắn tin thãm hỏi.  Lần chót tôi gặp lại anh vào mùa hè nãm 1993, anh trở lại  Denver  thãm bạn bè và ðó có lẽ cũng là lần cuối chúng tôi ngồi chung bàn tiệc với nhau.  Sức khỏe Liệu suy sụp một cách nhanh chóng, trông anh gầy hẳn ði vì bệnh gan tàn phá cơ thể.  Mùa hè nãm sau, tôi lo lắng gọi ðiện thoại hỏi thãm, giọng anh yếu ớt, mệt mỏi.   Tuy vậy, tôi vẫn còn nghe tiếng cười ngạo nghễ từ ðầu dây bên kia: “Tao là lính Dù. Tao không dễ chết ðâu mày.  Ông ðếch sợ, ông còn chống cự dài dài, còn lâu ông mới ngỏm”.  Tôi hứa sẽ có dịp ghé thãm anh.  Anh dặn dò: “Mày xuống ðây tao gọi thằng em LXN, thằng KQ viết vãn của tụi mày ở dưới New Orleans, nó làm ðồ nhậu hết xẩy, thỉnh thoảng vẫn bê lên tao một bao crawfish ngồi lai rai cả buổi. Anh còn thách thức: “. .  . Mày ðừng lo, ông bệnh nhưng ông vẫn uống như rồng . . . Sư mày.   Xuống ðây.   Còn lâu ông mới uống thua mày.”
oOo
Tô Phạm Liệu vĩnh biệt bạn bè ra ði vào giữa ðêm 29 tháng 7, 1997.  Tôi không ngờ anh ði mau như vậy.  Tôi ân hận mãi vì thời gian ðó phải ði công tác xa nhà liên miên nên không xếp ðặt thì giờ ðể thãm anh ðược.
Thời giai trôi qua như bóng câu, nào ngờ thấm thoát ðã ngần ấy nãm cách biệt.  Có những buổi chiều cuối tuần vắng lặng, tôi ngồi một mình, chợt nhớ tới anh, sao cảm thấy trống vắng lạ lùng.  Tôi nhớ những chiều thứ Bảy, dáng Tô Phạm Liệu lừng lững trong bộ ðồ hoa dù, chiếu mũ ðỏ ðội lệch trên trán, bước ngang khu sân cỏ trước nhà tôi với một ðám bạn bè, hớn hở cười nói.  Tôi nhớ những ðêm ngoài trời tuyết giá, tôi say mèm, người mềm như sợi bún, tửu lượng tôi chẳng thể so bằng Liệu nên thường hay thua cuộc. Tôi nằm trên ghế salon nửa tỉnh, nửa mê, anh ðến gần ân cần ðắp nhẹ chiếc mền lên ngực tôi: “Ngủ ði mày, sáng mai nhậu tiếp. Mẹ…cái thằng dở ẹt, chưa nhậu ðã xỉn”.
Người Y sĩ yêu thương ðồng ðội, người lính Mũ Ðỏ can trường Tô Phạm Liệu:  “Ra ði không mang va-ly, quần áo cứ thế ðút túi… ” dọc ngang một ðời chiến ðấu lẫm liệt không sợ hòn tên, mũi ðạn, nhưng số mệnh khã́c nghiệt ðã quật anh nã̀m xuống sau cơn bệnh ngạ̃t nghèo. Anh sớm chia tay bạn bè vĩnh viễn, ra ði chẳng cần hành trang.  Ngoài hình bóng người vợ trẻ, ðứa con thơ, chắc chắn anh còn mang theo tình bạn bè, tình chiến hữu, tình những người lính Mũ Ðỏ một thời cùng nhau ngang dọc, ðạp gót bốt ðờ sô lên không gian, coi cái chết tựa lông hồng.   Tôi cũng tin rằng nếu khi ra ði mà ðược chọn lựa, anh sẽ chọn chiếc áo hoa dù và cái Mũ Ðỏ ðút túi mang theo, mãi mãi như hành trang quí báu về bên kia thế giới.
Và dù có yên nghỉ nơi nào, nếu còn ðược nghe tiếng phi cơ khu trục bay ngang trời chắc hã̉n anh cũng ðưa tay vẫy chào . . . Vẫy tay chào nhau, những người ðã một thời chiến ðấu hiên ngang, chiến ðấu hết lòng cho phần ðất tự do nhưng phải buông tay trước số mệnh nghiệt ngã của quê hương.
Viết Nhân Ngày Quân Lực VNCH 19 Tháng 6.
Hoàng Gia Viễn